Tiền Giang: Ban hành kế hoạch thực hiện Đề án Quy hoạch mạng lưới Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm giai đoạn 2008 - 2010, định hướng đến năm 2015 theo Quyết định 792/QĐ-TTg trên địa bàn tỉnh

15/12/2008
Nhằm kế thừa và phát huy tối đa nguồn lực hiện có, phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh, tranh thủ sự hỗ trợ, giúp đỡ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước, bảo đảm sự phát triển ổn định và bền vững trên cơ sở nhu cầu trợ giúp pháp lý ngày càng cao của nhân dân, ngày 10 tháng 12 năm 2008, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch số 166/KH-UBND về việc thực hiện đề án Quy hoạch mạng lưới Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm giai đoạn 2008-2010, định hướng đến năm 2015 với mục tiêu chung:

- Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền được trợ giúp pháp lý của người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật; khắc phục các bất cập, hạn chế hiện có trong tổ chức bộ máy, cán bộ của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước (sau đây gọi là Trung tâm) và Chi nhánh của Trung tâm (sau đây gọi là Chi nhánh), huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia trợ giúp pháp lý, tăng cường điều kiện về nguồn lực và cơ sở vật chất để đáp ứng kịp thời nhu cầu trợ giúp pháp lý của nhân dân;

          - Kiện toàn Trung tâm và hình thành mạng lưới Chi nhánh, đáp ứng có hiệu quả yêu cầu nhiệm vụ, bảo đảm trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của nhà nước. Nhà nước giữ vai trò nồng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý để hoạt động trợ giúp pháp lý thật sự gần dân, thân dân, sát cơ sở, giải quyết vụ việc ngay tại địa bàn, gắn với giải đáp pháp luật, giảm bớt tình trạng khiếu nại, tố cáo kéo dài, vượt cấp và không đúng pháp luật;

          - Xác định hợp lý về cơ cấu tổ chức bộ máy, số lượng viên chức của Trung tâm và Chi nhánh bảo đảm tính chuyên môn hoá, tách bạch các hoạt động mang tính hành chính quản lý với các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ trợ giúp pháp lý cũng như định hướng phát triển cộng tác viên trên cơ sở dự báo đầy đủ nhu cầu trợ giúp pháp lý để thực hiện việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cho phù hợp, nâng cao năng lực cán bộ nghiệp vụ, bảo đảm tính chuyên sâu, chuẩn hoá đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý theo hướng chuyên môn hoá, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ.

          Bên cạnh mục tiêu chung, Uỷ ban nhân dân tỉnh còn đề ra mục tiêu cụ thể từng giai đoạn như:

- Giai đoạn từ 2008 đến 2010: Tập trung củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy của Trung tâm.

- Giai đoạn 2011 - 2015: Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực cho Trung tâm và Chi nhánh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nghiên cứu thành lập các Chi nhánh tại địa bàn nơi đặt Toà án khu vực theo lộ trình cải cách tư pháp, đảm bảo 98 - 100% nhu cầu được trợ giúp pháp lý. Đến năm 2015, mỗi lĩnh vực trợ giúp pháp lý qui định tại Điều 34 Nghị định số 07/2007/NĐ-CP đều có ít nhất 02 - 03 Trợ giúp viên pháp lý chuyên trách, Trung tâm có ít nhất 05 Trợ giúp viên pháp lý giỏi, có khả năng thực hiện ít nhất từ 02 - 03 lĩnh vực trợ giúp pháp lý trở lên và có khả năng tham gia tố tụng thành thạo. Dự liệu đủ nguồn lực cán bộ, viên chức cho Trung tâm và Chi nhánh tạo nguồn bổ sung trợ giúp viên pháp lý để khắc phục tình trạng điều động, luân chuyển cán bộ, bảo đảm Trung tâm ổn định số lượng trợ giúp viên pháp lý để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao; Nâng cao năng lực của Trung tâm để có đủ khả năng tổ chức, huy động các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý. Tạo nguồn lực người thực hiện  trợ giúp pháp lý để đáp ứng 100% nhu cầu trợ giúp pháp lý của người được trợ giúp pháp lý, bảo đảm đến năm 2015 thực hiện trong thực tế quyền được lựa chọn người thực hiện trợ giúp pháp lý. Củng cố, kiện toàn bộ máy các Chi nhánh đã thành lập; tiếp tục thành lập mới Chi nhánh ở huyện Tân Phú Đông và các huyện có đặt Toà án khu vực. Về cơ cấu, Chi nhánh có Trưởng Chi nhánh và các Trợ giúp viên pháp lý chuyên trách, bảo đảm đáp ứng yêu cầu chuyên môn hoá các lĩnh vực trợ giúp pháp lý theo qui định tại Điều 34 Nghị định số 07/2007/NĐ-CP của Chính phủ; Phát triển mạng lưới cộng tác viên, đến năm 2015, Trung tâm có từ 200 cộng tác viên trở lên, trong đó mỗi lĩnh vực trợ giúp pháp lý có từ 05 cộng tác viên chuyên sâu trở lên. Ở các xã nơi đặt Câu lạc bộ  trợ giúp pháp lý, phấn đấu có từ 01 đến 02 cộng tác viên để tham gia sinh hoạt Câu lạc bộ, hỗ trợ Trung tâm, Chi nhánh tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động; Bồi dưỡng bổ sung kiến thức pháp luật và kỹ năng trợ giúp pháp lý cho Trợ giúp viên pháp lý và cộng tác viên, nâng cao năng lực đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý và cán bộ quản lý; bảo đảm hàng năm 100% tổng số người thực hiện trợ giúp pháp lý đều được bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn về kỹ năng trợ giúp pháp lý ở các phạm vi phù hợp; Dự liệu đủ nguồn kinh phí bảo đảm cho hoạt động chuyên môn nghiệp vụ; cơ sở vật chất, trang thiết bị cho Trung tâm và các Chi nhánh.

          Đề ra các hoạt động cho từng giai đoạn:

- Giai đoạn 2008 - 2010: Khảo sát, đánh giá dự báo nhu cầu trợ giúp pháp lý; Củng cố, kiện toàn Trung tâm để phù hợp với quy định của Luật Trợ giúp pháp lý theo hướng chuyên môn hoá; Thành lập các Chi nhánh của Trung tâm: Đến năm 2010 thành lập mới 2 Chi nhánh tại huyện Tân Phước và Tân Phú Đông (ngoài 2 Chi nhánh hiện có); Phát triển mạng lưới trợ giúp pháp lý ở cơ sở để hỗ trợ hoạt động cho Trung tâm và Chi nhánh; Chuẩn bị tốt nguồn lực bảo đảm triển khai thực hiện nhiệm vụ.

Định hướng đến năm 2015, tiếp tục củng cố, kiện toàn Trung tâm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Thành lập các phòng chuyên môn theo lĩnh vực trợ giúp pháp lý. Phòng có Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, các Trợ giúp viên pháp lý chuyên trách. Tiếp tục củng cố, kiện toàn đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý để đến năm 2015, mỗi lĩnh vực trợ giúp pháp lý  có từ 02 Trợ giúp viên pháp lý chuyên trách trở lên và tranh thủ nguồn Cử nhân luật làm việc tại Trung tâm để bổ sung nguồn Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp điều động, luân chuyển cán bộ, viên chức là Trợ giúp viên pháp lý; tiếp tục phát triển mạng lưới cộng tác viên.

Đến năm 2015 Trung tâm có trung bình từ 200 cộng tác viên trở lên. Mỗi lĩnh vực trợ giúp pháp lý có từ 10 cộng tác viên trở lên. Ở cấp xã có thành lập Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý có từ 01 đến 02 cộng tác viên để hỗ trợ sinh hoạt Câu lạc bộ. Huy động các tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật phối hợp với Trung tâm trong việc triển khai thực hiện trợ giúp pháp lý, phấn đấu có từ 50% - 60% tổng số tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý.

Củng cố, kiện toàn các Chi nhánh, bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững của các Chi nhánh. Bố trí nguồn lực cán bộ, kinh phí, cơ sở vật chất để các Chi nhánh hoạt động có chất lượng, hiệu quả. Phấn đấu mỗi Chi nhánh có 02 Trợ giúp viên pháp lý chuyên trách; thành lập Chi nhánh tại nơi có Toà án khu vực để tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý.

Xây dựng, kiện toàn mạng lưới trợ giúp pháp lý ở cơ sở, củng cố phát triển mạng lưới cộng tác viên hiện có. Nâng cao chất lượng, tăng cường hoạt động quản lý, hướng dẫn nghiệp vụ của Trung tâm cho cộng tác viên; tiếp tục duy trì và phát triển mạng lưới Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý đã được thành lập để Câu lạc bộ có thể chủ động thực hiện sinh hoạt và triển khai thực hiện trợ giúp pháp lý ở cơ sở.

Dự liệu các nguồn lực về con người, cơ sở vật chất, kinh phí bảo đảm cho hoạt động trợ giúp pháp lý.

Đề ra các giải pháp để thực hiện kế hoạch như: Dự toán nguồn kinh phí bảo đảm cho hoạt động và thực hiện kế hoạch; kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ; giải pháp về tăng cường mối quan hệ phối hợp; Giải pháp về kinh phí, cơ sở vật chất và điều kiện bảo đảm hoạt động

Để Kế hoạch thực hiện Đề án Quy hoạch mạng lưới Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm giai đoạn 2008 - 2010, định hướng đến năm 2015 theo Quyết định 792/QĐ-TTg ngày 23/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn tỉnh được triển khai thực hiện nghiêm túc, đạt hiệu quả cao nhất, Uỷ ban nhân dân tỉnh giao:

1. Sở Tư pháp có nhiệm vụ:

- Chủ trì phối hợp với Sở Nội vụ, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh triển khai thực hiện nội dung kế hoạch này; hướng dẫn, đôn đốc kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện Đề án định kỳ hàng năm tổng hợp báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

- Chủ trì phối hợp với các Sở có liên quan kiểm tra việc triển khai thực hiện Đề án; xác lập cơ chế kiểm tra, đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý; kiểm tra nguồn lực bố trí cho hoạt động  trợ giúp pháp lý; thực hiện việc khen thưởng, xử lý vi phạm và kiến nghị các giải pháp cụ thể.

2. Sở Nội vụ có trách nhiệm phối hợp với Sở Tư pháp xác định cụ thể về tổ chức bộ máy, định mức biên chế viên chức cho Trung tâm và Chi nhánh; tham mưu, thẩm định trình Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định thành lập Chi nhánh và xác định biên chế cho Trung tâm và Chi nhánh phù hợp với điều kiện thực tế trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp.

3. Sở Kế hoạch và Đầu tư có nhiệm vụ:

- Phối hợp với Sở Tư pháp cân đối kinh phí để đầu tư, xây dựng, sửa chữa trụ sở làm việc của Trung tâm và các Chi nhánh.

- Tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh phân bổ nguồn vốn đầu tư của địa phương để thực hiện đề án theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

4. Sở Tài chính có nhiệm vụ phối hợp với Sở Tư pháp Bố trí kinh phí hỗ trợ cho công tác trợ giúp pháp lý từ nguồn ngân sách địa phương để thực hiện Đề án, bảo đảm đủ điều kiện về cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động cho Trung tâm và các Chi nhánh; bố trí đủ kinh phí chi thường xuyên và kinh phí chi cho hoạt động chuyên môn nghiệp vụ để Trung tâm và Chi nhánh triển khai có hiệu quả các hoạt động trợ giúp pháp lý./.

Văn Năm - VPUBND tỉnh