Đồng Tháp: Kế hoạch tổ chức thực hiện Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị triển khai công tác năm 2009 của ngành Tư pháp

12/06/2009
Thực hiện Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 31/TB-VPCP ngày 23/01/2009 của Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị triển khai công tác năm 2009 của ngành Tư pháp và công văn số 972/BTP-TCCB ngày 01/4/2009 của Bộ Tư pháp về việc tổ chức thực hiện Kết luận của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân (UBND) Tỉnh đề ra kế hoạch thực hiện cụ thể như sau:

   I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

          - Nhằm triển khai quán triệt Kết luận của Thủ tướng Chính phủ đến toàn thể cán bộ, công chức cơ quan Tư pháp, cơ quan THADS; cán bộ pháp chế trong các Sở, ngành tỉnh và các cơ quan khác có liên quan trong tỉnh, tạo sự chuyển biến mới về nhận thức, hành động để triển khai đồng bộ, toàn diện các nhiệm vụ công tác Tư pháp ở địa phương, góp phần đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở địa phương và của ngành Tư pháp trong thời gian tới.

          - Tổ chức thực hiện có hiệu quả Kết luận của Thủ tướng Chính phủ về những nội dung trọng tâm đã được nêu tại công văn số 972/BTP-TCCB ngày 01/4/2009 của Bộ Tư pháp.

II. NỘI DUNG

          1. Về nâng cao chất lượng xây dựng, thẩm định, theo dõi về thi hành văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.

          Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng UBND Tỉnh cùng các Sở, Ban, Ngành tỉnh có liên quan giúp UBND Tỉnh:

          - Nâng cao chất lượng thẩm định các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, vai trò của Sở Tư pháp phải tham gia ngay từ đầu quá trình soạn thảo văn bản của các Sở, ngành tham mưu, đề xuất ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

          - Tổ chức thực hiện rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, đặc biệt là các lĩnh vực đang bức xúc hiện nay như đất đai, đầu tư, kinh doanh, thủ tục hành chính…, để phát hiện những quy định, trình tự, thủ tục chồng chéo, bất hợp lý, gây khó khăn, cản trở đối với người dân và doanh nghiệp trình UBND Tỉnh sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ những thủ tục gây phiền hà cho công dân và tổ chức nhằm rút ngắn quy trình, thời gian giải quyết công việc, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước ở địa phương.

          - Xây dựng và trình UBND Tỉnh ban hành cơ chế phối hợp giữa Sở Tư pháp với các cấp, các ngành để thực hiện tốt nhiệm vụ theo dõi thi hành pháp luật theo quy định tại Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28/4/2009 của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ, tạo cơ chế phát hiện kịp thời những vướng mắc, mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập, không phù hợp với thực tiễn ở địa phương trong các văn bản quy phạm pháp luật để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung thay thế văn bản mới nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

         - Củng cố, kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ đủ năng lực, trình độ để triển khai, thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật và theo dõi chung về thi hành pháp luật trên địa bàn Tỉnh.

2. Về triển khai thực hiện Luật thi hành án dân sự và Nghị quyết của Quốc hội về thi hành Luật thi hành án dân sự

a) Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Trưởng Thi hành án dân sự Tỉnh báo cáo UBND Tỉnh một số nội dung triển khai và tổ chức thi hành Luật thi hành án dân sự, việc chuyển đổi mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh theo quy định của Luật thi hành án dân sự; đồng thời, tham mưu, giúp UBND Tỉnh:

- Tổ chức phổ biến, quán triệt những nội dung cơ bản của Luật thi hành án dân sự, các văn bản hướng dẫn thi hành đến cơ quan, tổ chức và nhân dân trên địa bàn tỉnh để thông hiểu và chấp hành nghiêm pháp luật về thi hành án dân sự.

- Chỉ đạo tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành chức năng để thực hiện công tác thi hành án dân sự, gắn kết công tác thi hành án dân sự với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương; đồng thời, có chủ trương, biện pháp chỉ đạo sát sao, mạnh mẽ, quyết liệt để giảm số án tồn đọng, nhất là những vụ việc phức tạp, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương, tạo chuyển biến cơ bản trong công tác thi hành án dân sự.

- Chuẩn bị các điều kiện và thủ tục cần thiết để đến ngày 01/7/2009, thực hiện tốt việc chuyển đổi các cơ quan thi hành án dân sự hiện nay sang mô hình tổ chức mới theo quy định của Luật thi hành án dân sự, trong đó có việc chuyển giao việc quản lý một số mặt công tác tổ chức, cán bộ của cơ quan Thi hành án dân sự từ Giám đốc Sở Tư pháp sang Trưởng Thi hành án dân sự Tỉnh theo kế hoạch.

- Kiện toàn, củng cố, nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức đảng, đoàn thể trong các cơ quan thi hành án dân sự phù hợp với mô hình tổ chức và cơ chế quản lý mới.

b) Trưởng Thi hành án dân sự Tỉnh chủ trì, phối hợp với Giám đốc Sở Tư pháp thực hiện một số công việc sau:

- Căn cứ điều kiện cụ thể, đề xuất với Bộ Tư pháp tiếp tục kiện toàn cơ cấu tổ chức, biên chế, cán bộ của các cơ quan thi hành án dân sự phù hợp với Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành.

- Rà soát, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ để xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ thi hành án, trên cơ sở đó đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm và bổ nhiệm lại cán bộ lãnh đạo và chấp hành viên các cơ quan thi hành án dân sự ở địa phương cho phù hợp với mô hình tổ chức mới theo Luật thi hành án dân sự. Thực hiện hiệu quả việc điều động, biệt phái, luân chuyển cán bộ thi hành án phù hợp với yêu cầu công tác của các cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh.

- Rà soát, đánh giá thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc, đầu tư xây dựng, sửa chữa trụ sở làm việc, kho vật chứng của các cơ quan thi hành án, trên cơ sở đó kiến nghị với Bộ về kế hoạch sửa chữa, nâng cấp, đồng thời hoàn chỉnh quy hoạch, kế hoạch xây dựng trụ sở làm việc cho phù hợp với mô hình tổ chức Toà án khu vực trong Chiến lược cải cách tư pháp.

- Phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh lập danh sách các việc thi hành có khoản thu cho ngân sách nhà nước có giá trị không quá 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng), mà thời gian tổ chức thi hành án đã quá 05 năm, tính đến thời điểm Luật thi hành án dân sự có hiệu lực nhưng người phải thi hành án không có điều kiện thi hành án để đề nghị Toà án nhân dân cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở ra quyết định miễn thi hành đối với khoản nghĩa vụ đó trước ngày 10 tháng 7 năm 2009.

- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ công tác thi hành án dân sự theo quy định của Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành cho cán bộ, công chức cơ quan thi hành án dân sự và cán bộ, công chức các cơ quan, tổ chức có liên quan trên địa bàn Tỉnh.

3. Về kiện toàn tổ chức, cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

          a) Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ căn cứ vào Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV thay thế Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT/TP-NV ngày 05/5/2005 của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ thực hiện:

- Rà soát, kiểm tra, đánh giá thực trạng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, cơ cấu và số lượng biên chế của Sở Tư pháp, tổ chức pháp chế của cơ quan chuyên môn thuộc UBND Tỉnh (sau đây gọi là tổ chức pháp chế), Phòng Tư pháp và Tư pháp cấp xã, trên cơ sở đó xây dựng, trình UBND  Tỉnh Đề án kiện toàn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức, biên chế của Sở Tư pháp, tổ chức pháp chế, Phòng Tư pháp và Tư pháp cấp xã; trong đó, cần xác định rõ số lượng, tên gọi của các tổ chức thuộc Sở Tư pháp, mô hình tổ chức của tổ chức pháp chế (Phòng Pháp chế hoặc công chức pháp chế chuyên trách), cơ cấu và số lượng biên chế của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và Tư pháp cấp xã.

- Trình UBND Tỉnh quyết định sửa đổi, bổ sung quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức, biên chế và cơ cấu cán bộ của Sở Tư pháp; phối hợp với thủ trưởng các cơ quan chuyên môn cùng cấp trình UBND Tỉnh thành lập Phòng Pháp chế hoặc bố trí công chức làm công tác pháp chế trước mắt đối với một số Sở có chức năng quản lý nhà nước đa lĩnh vực; tham mưu, giúp UBND Tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn UBND cấp huyện quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, bổ sung đủ biên chế cho Phòng Tư pháp, trong đó đảm bảo mỗi Phòng Tư pháp có từ 5 cán bộ trở lên; tham mưu, đề xuất Chủ tịch UBND Tỉnh kiện toàn cán bộ Tư pháp cấp xã cho phù hợp với yêu cầu mới.

- Phối hợp với Sở Nội vụ, Trường chính trị tỉnh trình UBND Tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ về lý luận chính trị, đạo đức công vụ, chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ cho cán bộ làm công tác Tư pháp và thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh, đảm bảo trang bị  kiến thức cần thiết theo quy định, trong đó đặc biệt chú trọng đến đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với vị trí công tác đang đảm nhận và quy hoạch cán bộ ở địa phương, đặc biệt là cán bộ làm công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá văn bản, theo dõi thi hành pháp luật, cán bộ làm công tác pháp chế và cán bộ Tư pháp - hộ tịch cấp xã. Phấn đấu đến năm 2010, 100% công chức Sở Tư pháp, tổ chức pháp chế, Phòng Tư pháp, các cơ quan thi hành án dân sự đư­­ợc trang bị kỹ năng nghiệp vụ theo yêu cầu công vụ và có khả năng hoàn thành có chất l­ượng nhiệm vụ đư­­ợc giao, được trang bị kiến thức về văn hoá công sở, đạo đức và ý thức trách nhiệm; 100% công chức Tư pháp - hộ tịch cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, có đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ đ­ược giao, trong đó số công chức có trình độ trung cấp luật và trung cấp khác trở lên là 80%.

          b) Sở Nội vụ chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan: tham mưu, đề xuất với UBND Tỉnh việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung và tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm thu hút những người có phẩm chất, có trình độ, năng lực phù hợp với từng tiêu chuẩn chức danh cán bộ đến công tác tại các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh; trong đó, cần đặc biệt chú trọng tới đối tượng đến công tác tại các cơ quan Tư pháp, tổ chức pháp chế và cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn Tỉnh.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các Sở, Ban, ngành Tỉnh có liên quan căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được phân công, tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả Kế hoạch này tại đơn vị, địa phương mình.

2. Giao Sở Tư pháp chịu trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Kế hoạch này; tập hợp tình hình, kết quả thực hiện và báo cáo về Bộ trưởng Bộ Tư pháp và UBND Tỉnh trước ngày 20 hàng tháng.

Trong quá trình tổ chức thực hiện có khó khăn, vướng mắc các ngành, các địa phương kịp thời báo cáo UBND Tỉnh (qua Sở Tư pháp) nắm, chỉ đạo./.

Phạm Văn Phong