7 nhiệm vụ trọng tâm của ngành tư pháp Ninh Bình năm 2009

09/02/2009
Trong chương trình công tác tư pháp năm 2009, Lãnh đạo ngành tư pháp Ninh Bình đã xác định 7 nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung triển khai như sau:

1. Tiếp tục thực hiện tốt Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND. Chủ động phối hợp và tham gia ngay từ đầu với các ngành, các cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc tham mưu giúp UBND tỉnh soạn thảo, tham gia soạn thảo VBQPPL theo chương trình đã được HĐND, UBND tỉnh phê duyệt nhằm tạo sự chuyển biến cơ bản về tiến độ và nâng cao chất lượng thẩm định văn văn QPPL. Tập trung triển khai có hiệu quả hoạt động kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL theo thẩm quyền, theo dõi đôn đốc quá trình xử lý văn bản trái pháp luật đã được phát hiện. Chuẩn bị các điều kiện cần thiết, để xây dựng và triển khai thực hiện Kế hoạch về theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong tỉnh sau khi có hướng dẫn của Bộ Tư pháp; hướng dẫn, đôn đốc các cấp, các ngành trong tỉnh tổ chức thực hiện việc theo dõi đánh giá báo cáo về tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi quản lý của ngành. Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước đối với tổ chức pháp chế sở, ngành; phối hợp với các ngành có liên quan xây dựng, củng cố và bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ pháp chế thực sự trở thành một bộ phận tham mưu, chỗ dựa đáng tin cậy cho các ngành trong việc xây dựng VBQPPL ở địa phương.

2. Thực hiện tốt Chỉ thị số 21/2008/CT-TTG ngày 01/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ  về "tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự" chỉ đạo các đơn vị Thi hành án tập trung xác minh, phân loại và tổ chức đôn đốc án có điều kiện thi hành, phấn đấu từng bước làm giảm án tồn đọng, nâng cao kết quả thi hành án, nhằm tạo sự chuyển biến mạnh trong công tác THADS. Năm 2009, phấn đấu thi hành đạt 75-80% về việc và 55-60% về tiền đối với án có điều kiện thi hành, giảm từ 10-15% số án tồn đọng, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai thực hiện tốt Luật thi hành án dân sự, phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền địa phương trong công tác kiện toàn tổ chức, cán bộ cơ quan THADS trong tỉnh; từng bước chuyển giao việc quản lý một số mặt công tác tổ chức cán bộ của cơ quan THADS từ Giám đốc Sở Tư pháp (theo uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp) sang cho Trưởng THADS tỉnh.

3. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 32/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác phổ biến giáo dục pháp luật; chương tình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2008-2012 của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh, phối hợp với các cấp, các ngành trong tỉnh triển khai tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật mới ban hành.

4. Nâng cao hiệu quả hoạt động hành chính và bổ trợ tư pháp. Triển khai thực hiện Luật quốc tịch Việt nam (sửa đổi). Thực hiện tốt Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, Luật Công chứng và Nghị định 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực văn sao từ bản chính, chứng thực chữ ký; Chỉ thị số 18/2006/CT-TTG của Thủ tướng Chính phủ về công tác bán đấu giá tài sản. Tăng cường công tác quản lý nhà nước, kết hợp thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức luật sư, tư vấn pháp luật. Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức Giám định tư pháp, đồng thời rà soát lại đội ngũ Giám định viên tư pháp, các tổ chức Giám định tư pháp qua đó có biện pháp củng cố về tổ chức và hoạt động của các tổ chức này, theo đúng quy định của pháp luật. Tiến hành sơ kết 2 năm thực hiện Luật công chứng, làm rõ những điểm vướng mắc, bất cập và kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, nghiên cứu đề xuất với UBND tỉnh phương án chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất từ UBND sang cho địa phương có tổ chức hành nghề công chứng. Tiếp tục rà soát, đơn giản hoá các thủ tục hành chính trong hoạt động chứng thực, hộ tịch, tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nhất là để nâng cao chất lượng các hoạt động này, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, nhu cầu xã hội. Tiếp tục triển khai thi hành có hiệu quả Luật trợ giúp pháp lý, đẩy mạnh hoạt động TGPL lưu động về cơ sở, vùng sâu, vùng xa và các xã  nghèo đặc biệt khó khăn, bảo đảm mọi người đều được tiếp cận với hoạt động rợ giúp pháp lý.

5. Kiện toàn công tác tổ chức cán bộ, cán bộ của ngành, xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, tạo chuyển biến thực sự về chất lượng trong hoạt động công tác tư pháp. Phối hợp với Sở Nội vụ  xây dựng kế hoạch kiện toàn về tổ chức bộ máy của Trung tâm  trợ giúp pháp lý nhà nước theo quy định tại Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BTP-BNV ngày 07/1/2008 của Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ trình HĐND tỉnh quyết định. Đặc biệt quan tâm tới công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ. Chủ động tham mưu cho HĐND,UBND các cấp bổ sung cán bộ tư pháp cơ sở, nhất là cán bộ Tư pháp hộ tịch, chú trọng công tác bồi dưỡng kiến thức pháp luật, chuyên môn nghiệp vụ và từng bước chuẩn hoá đội ngũ cán bộ này.

6. Đổi mới phương thức chỉ đạo điều hành, xây dựng chương trình công tác cụ thể, sát với chương trình trọng tâm của địa phương và của ngành, ưu tiên thực hiện những nhiệm vụ phục vụ trực tiếp cho việc ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội. Triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ theo dõi chung về thi hành pháp luật, duy trì chế độ giao ban công tác của Lãnh đạo sở, lãnh đạo các đơn vị, trung tâm thuộc Sở, thực hiện nghiêm chế độ báo cáo, thống kê, tranh thủ hiệu quả sự lãnh đạo, chỉ đạo quan tâm giúp đỡ của cấp uỷ, chính quyền địa phương trong công tác tư pháp, tiếp tục chú trọng công tác phối hợp, tăng cường mối quan hệ trong công tác, hướng mạnh về cơ sở.

7. Tiếp tục thực hiện tốt các nhiệm vụ trong lộ trình cải cách tư pháp vè đề án cải cách hành chính, tiếp tục triển khai thực hiện kế hoạch xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động cơ quan Sở Tư pháp.

Thiều Thị Tú