Kết quả hoạt động của Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang năm 2008 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2009

09/02/2009
Năm 2008, Sở Tư pháp nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Tỉnh ủy, UBND tỉnh; sự hỗ trợ và phối hợp của các cấp, các ngành đã góp phần quan trọng cho Sở Tư pháp thực hiện nhiệm vụ đạt kế hoạch đề ra.

Ngay từ đầu năm 2008 Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang đã đề ra kế hoạch, nhiệm vụ trọng tâm của ngành. Qua một năm thực hiện, Sở Tư pháp đã đạt được những kết quả như sau:

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL): 

- Xác định rõ công tác xây dựng, thẩm định văn bản là công tác trọng tâm trong năm 2008 theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, Sở Tư pháp Hậu Giang phối hợp với các Sở, Ngành, UBND cấp huyện tham mưu trình UBND tỉnh phê duyệt ban hành Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của UBND năm 2008 ngay từ đầu năm, đảm bảo sát với tình hình thực tế địa phương, kịp thời thể chế hoá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, điều chỉnh thiết thực các quan hệ xã hội phát sinh, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của nhà nước và nhân dân; đồng thời, làm cơ sở phục vụ kịp thời cho việc phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, phát huy cao độ vai trò của các ngành, các cấp trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình tại địa phương.

- Công tác soạn thảo văn bản: Số lượng văn bản chủ trì soạn thảo, tham gia soạn thảo 13 văn bản (gồm 04 quyết định, 03 chỉ thị, 03 kế hoạch, 01 điều lệ, 02 công văn), đạt 100%.

- Công tác thẩm định văn bản: Tổng số văn bản đã thẩm định 116 văn bản, gồm 99 VBQPPL (15 nghị quyết, 67 quyết định, 17 chỉ thị) và 17 VB áp dụng pháp luật (gồm 01 quyết định, 15 tờ trình, 01 đề án), đạt 100%, đảm bảo đúng thời gian quy định.

- Sở Tư pháp tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 08/KH-UBND ngày 20/02/2008 của UBND tỉnh Hậu Giang về việc tổng rà soát và hệ thống hoá văn bản QPPL từ năm 2004 đến tháng 6 năm 2008, hiện nay đang tổng hợp chuẩn bị báo cáo về Bộ Tư pháp và UBND tỉnh về kết quả rà soát; Trong năm in phát hành 310 quyển “Hệ thống văn bản QPPL do UBND tỉnh ban hành - tập 8, 9” phân phối cho các Sở, Ban ngành, Tư pháp các huyện, thị xã và xã, phường, thị trấn trong tỉnh.

- Tổ chức lấy ý kiến đóng góp dự thảo VBQQPL của Trung ương: 09 văn bản (gồm 05 luật, 02 nghị định, 01 pháp lệnh và 01 quyết định).

- Tham gia đóng góp ý kiến văn bản địa phương: 24 văn bản (gồm 14 quyết định, 06 chỉ thị, 01 điều lệ, 01 kế hoạch và 02 đề án).

Đến nay, Sở Tư pháp tham mưu cho UBND tỉnh ban hành trong Kế hoạch và ngoài Kế hoạch được 61/63 văn bản (49 quyết định, 12 chỉ thị). So với Kế hoạch còn lại 02 văn bản chưa được ban hành, số văn bản còn lại Sở Tư pháp đảm bảo sẽ hoàn thành sớm. Như vậy, công tác ban hành văn bản vượt chỉ tiêu của tỉnh đề ra năm 2008 (cả về thời gian, số lượng,...). Đặc biệt, chất lượng các văn bản QPPL ngày càng nâng cao, tạo cơ sở pháp lý vững chắc, giúp công tác quản lý ngành ngày càng đạt hiệu quả.

Công tác soạn thảo, góp ý, thẩm định văn bản đảm bảo đúng tiến độ và thực hiện theo Chương trình xây dựng văn bản QPPL do UBND tỉnh ban hành.

Cấp huyện soạn thảo 997 văn bản (giảm 3.811 văn bản), thẩm định 531 văn bản (tăng 29 văn bản), góp ý 30 văn bản.

Công tác kiểm tra, rà soát văn bản:

- Thực hiện Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản QPPL, Sở Tư pháp ban hành Kế hoạch số 256/KH-STP ngày 08/5/2008 về tổ chức kiểm tra các VBQPPL của HĐND và UBND các huyện, thị xã ban hành từ đầu năm 2004 đến ngày 30/4/2008.

- Giúp UBND tỉnh thực hiện kiểm tra 64 văn bản (50 quyết định và 14 chỉ thị) đạt 100%, tăng 10 văn bản. Qua kiểm tra các văn bản ban hành đúng tiến độ đề ra, chất lượng ban hành văn bản trong lĩnh vực được phân công tiến hành chặt chẽ đúng theo quy định của pháp luật.

- Tổ chức kiểm tra theo thẩm quyền 36 văn bản cấp huyện (17 nghị quyết, 08 quyết định và 11 chỉ thị), giảm 14 văn bản. Qua kiểm tra có một số văn bản các huyện, thị xã còn sai sót về hình thức, thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản (cách cho số chưa thống nhất, lỗi chính tả, ngữ pháp tiếng Việt, văn phong pháp luật, cách trình bày văn bản,...). Sở Tư pháp đã có công văn hướng dẫn thực hiện và đề nghị chấn chỉnh.

Thực hiện Kế hoạch kiểm tra, Sở Tư pháp thành lập Đoàn kiểm tra công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật của 7/7 huyện, thị xã trong tỉnh về công tác soạn thảo, góp ý, thẩm định văn bản, thủ tục ban hành VBQPPL, về tính pháp lý, hình thức, thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản, việc đưa tin đăng Công báo, công bố các VBQPPL của HĐND và UBND cấp huyện, công tác tự kiểm tra văn bản cùng cấp,.... qua đó đã kiểm tra 746 văn bản (gồm 242 nghị quyết, 180 chỉ thị và 324 quyết định). Nhìn chung, các văn bản đều được ban hành đảm bảo về nội dung, hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất, tuy nhiên còn một số hạn chế như trong công tác xây dựng văn bản chưa đảm bảo về trình tự thủ tục, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản, cá biệt có văn bản ban hành dưới hình thức văn bản áp dụng pháp luật, ban hành dưới hình thức công văn, một số văn bản trước khi ban hành không qua Phòng Tư pháp thẩm định,... Đoàn đã có báo cáo kết luận, nhận xét đánh giá và những điểm cần lưu ý trong công tác ban hành VBQPPL của HĐND và UBND cấp huyện phản hồi lại cho các đơn vị đã kiểm tra rút kinh nghiệm, nhằm nâng cao hiệu quả công tác ban hành VBQPPL trong thời gian tới được tốt hơn.

Tổ chức Hội nghị tập huấn về kỹ năng tuyên truyền PBGDPL, công tác xây dựng và kiểm tra văn bản QPPL cho báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, cấp huyện, đội ngũ làm công tác xây dựng văn bản, kiểm tra văn bản cấp huyện và cấp tỉnh (có mời báo cáo viên Bộ Tư pháp dự).

Cấp huyện rà soát 1.375 văn bản; kiểm tra 84 văn bản (tăng 10 văn bản).

Công tác phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL):

- Thực hiện Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân, Sở Tư pháp tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 04/KH-UBND ngày 01/02/2008 của Uỷ ban  nhân dân tỉnh Hậu Giang về tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật năm 2008 và Kế hoạch số 254/KH-HĐ ngày 08/5/2008 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hậu Giang về triển khai các Luật có hiệu lực thi hành trong năm 2008. Theo đó, Phòng Tư pháp các huyện, thị xã xây dựng Kế hoạch PBGDPL năm 2008 cho địa phương mình.

- Xây dựng nội dung công tác PBGDPL sát với nhu cầu thực tiễn, phù hợp với từng đối tượng được tuyên truyền PBGDPL, chú trọng tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật trong những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân, được dư luận xã hội quan tâm, nhất là những lĩnh vực có khiếu kiện nhiều, gây bức xúc trong xã hội, từng bước nâng cao hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật trong CBCC và trong nhân dân. Mục tiêu trọng tâm lấy mô hình câu lạc bộ pháp luật phối hợp với trợ giúp pháp lý; tổ chức thi tìm hiểu kiến thức pháp luật; đa dạng hoá các loại hình tuyên truyền PBGDPL phù hợp với từng đối tượng, phối hợp với các ngành, các cấp nhằm phát huy tối đa hiệu quả công tác; quan tâm củng cố, bổ sung và phát huy vai trò đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền, báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ và nhiệt tình với công tác; nâng cao hiệu quả xây dựng và củng cố tổ chức và hoạt động các Câu lạc bộ pháp luật, hoà giải cơ sở, quản lý và khai thác hiệu quả tủ sách pháp luật, nhất là ở những xã có điều kiện kinh tế còn khó khăn.   

- Tiếp tục kiện toàn tổ chức của cơ quan quản lý nhà nước về công tác PBGDPL, phát huy vai trò của Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL ở các cấp để tranh thủ sức mạnh của hệ thống chính trị trong việc tăng cường công tác PBGDPL cho cán bộ và nhân dân. Sở Tư pháp phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể các cấp, cơ quan hữu quan để thực hiện tốt công tác PBGDPL. Không ngừng củng cố, bổ sung thành viên mới, kiểm tra các mặt hoạt động, nâng cao vai trò của Hội đồng PHCTPBGDPL. Nghiêm túc thực hiện Kế hoạch số 15/KH-UBND ngày 17/7/2006 của UBND tỉnh Hậu Giang về việc thực hiện Đề án phát huy vai trò của cơ quan và cán bộ tư pháp trong PBGDPL và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho nhân dân, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn giai đoạn 2005-2010.

- Qua công tác khảo sát việc sáp nhập một số Sở, Ngành cấp tỉnh và cấp huyện theo tinh thần Nghị định số 13/2008/NĐ-CP và Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008, Sở Tư pháp đã tiến hành khảo sát, thống kê lại thành viên Hội đồng và bổ sung thành viên mới, hiện nay số lượng như sau: Hội đồng PHCTPBGDPL cấp tỉnh 21 thành viên; cấp huyện (7/7 huyện, thị xã) 130 thành viên; cấp xã (71/71 đơn vị cấp xã) 644 thành viên, Thường trực Hội đồng thường xuyên theo dõi, chỉ đạo các CLBPL hoạt động và cung cấp các tài liệu pháp luật cần thiết, đồng thời trực tiếp tham gia triển khai các văn bản luật theo yêu cầu.

Hội đồng PHCTPBGDPL các cấp đều đã xây dựng quy chế hoạt động của Hội đồng cấp mình và có sự phối hợp giữa các thành viên Hội đồng nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ kế hoạch tuyên truyền PBGDP ở địa phương, toàn tỉnh có 133 báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, 128 báo cáo viên pháp luật cấp huyện và 597 báo cáo viên pháp luật cấp xã.

Đội ngũ báo cáo viên định kỳ đều được tổ chức tập huấn kiến thức pháp luật và nghiệp vụ PBGDPL.

Hội đồng PHCTPBGDPL hai cấp huyện và xã trong năm 2008 tuyên truyền 66 cuộc, có 6.320 người dự.

Triển khai các hình thức PBGDPL đa dạng, đáp ứng nhu cầu của các đối tượng đạt hiệu quả cao:

- Công tác triển khai văn bản luật: Thực hiện Kế hoạch số 04/KH-UBND ngày 01/02/2008 của UBND tỉnh về công tác tuyên truyền PBGDPL năm 2008, Sở Tư pháp tổ chức Hội nghị triển khai văn bản luật 04 đợt gồm 11 văn bản luật cho 600 lượt cán bộ, công chức là lãnh đạo các Sở, Ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh, Hội liên hiệp phụ nữ cấp huyện, lãnh đạo các Phòng Tư pháp,... phát 1.400 quyển tài liệu gồm 11 văn bản luật cho các đại biểu tham dự.

Các văn bản luật sau khi được Hội đồng PHCTGDPL cấp tỉnh triển khai, đều được Hội đồng PHCTGDPL cấp huyện và cấp xã triển khai lại cho địa phương mình. Kết quả năm 2008 cấp huyện, xã tuyên truyền tập trung 3.716 cuộc với 170.918 người dự (nội bộ có 1.117 cuộc với 49.975 người dự, ra dân 2.599 cuộc với 120.943 người dự). 

- Tuyên truyền PBGDPL thông qua in ấn tài liệu: Sở Tư pháp in ấn phát hành 22.000 bản tin tư pháp, 800 quyển Đặc san xuân, 310 quyển “Hệ thống văn bản QPPL do UBND tỉnh ban hành - tập 8, 9” phân phối cho các Sở, Ban ngành, Tư pháp các huyện, thị xã và xã, phường, thị trấn trong tỉnh. Ngoài ra, in phát hành 120.000 tờ bướm (gồm 04 loại: Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm; Luật Chất lượng sản phẩm, hành hoá; Pháp lệnh Thực hiện dân chủ xã, phường, thị trấn), 20.000 tờ bướm về hành lang an toàn giao thông đường bộ, cung cấp cho các Sở, Ban ngành, đoàn thể, Tư pháp các huyện, thị xã và xã, phường, thị trấn, tủ sách pháp luật,... trong tỉnh. 

- Tuyên truyền qua loa truyền thanh, Đài truyền thanh: Sở Tư pháp thu 290 cuộc băng cassette (Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm; Luật Chất lượng sản phẩm hàng hoá; Pháp lệnh Dân chủ xã, phường, thị trấn) phân phối cho các Phòng Tư pháp và Ban Tư pháp. Trong năm 2008, các Đài truyền thanh, Trạm truyền thanh cấp huyện, cấp xã phát thanh được 145.712 phút.

- Tuyên truyền thông qua tủ sách pháp luật (TSPL): Trên địa bàn tỉnh có 71 đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn đều có TSPL (71 TSPL) đặt ở phòng đọc sách hoặc thư viện xã; 147 TSPL của cơ quan, doanh nghiệp, trường học; 16 TSPL ở chùa khơme; 103 KSPL các ở ấp, khu vực. Tủ sách pháp luật được củng cố kiện toàn, hàng năm đều có bổ sung đầu sách mới số đầu sách hiện có 21.841 đầu sách, số  người đến mượn và đọc sách trong năm 7.868 lượt người.

- Thực hiện tốt công tác hoà giải cơ sở: Mô hình “Tổ hoà giải - Tuyên truyền pháp luật” được nhân rộng trong phạm vi toàn tỉnh, góp phần thiết thực trong việc nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của người dân.  Tích cực chủ động tham mưu cho UBND bố trí kinh phí cho công tác hoà giải cơ sở, tuyên truyền PBGDPL và chỉ đạo thực hiện tốt chi phí bồi dưỡng cho các hoà giải viên tổ hoà giải về những vụ hoà giải thành theo tinh thần Quyết định của UBND tỉnh Hậu Giang và văn bản hướng dẫn liên ngành của Sở Tư pháp và Sở Tài chính, theo đó giao cho Phòng Tư pháp dự trù kinh phí chi cho Tổ hoà giải, với mức chi 80.000 đồng/vụ hoà giải thành. Kết quả hoà giải trong năm 2008 như sau:

+ Ban hoà giải: Tổng số vụ thụ lý 1.945 vụ. Tổng số vụ việc đã hoà giải 1.884 vụ việc. Số vụ việc hoà giải thành 1.535 vụ việc (đạt 81,50%). Giải quyết về tiền 733.347.000 đồng, vàng 257 chỉ, đất 17.986m2.

+ Tổ hoà giải: Tổng số vụ thụ lý 1.712 vụ. Tổng số vụ việc đã hoà giải 1.599 vụ việc. Số vụ việc hoà giải thành 1.327 vụ việc (đạt 82,98%). Giải quyết về tiền 338.699.000 đồng, vàng 133,5 chỉ, đất 29.663m2

Năm 2008 Sở Tư pháp tổ chức Sơ kết 10 năm công tác hoà giải cơ sở, có 06 tập thể và 14 cá nhân đạt thành tích xuất sắc trong công tác hoà giải thời gian qua được UBND tỉnh tặng Bằng khen và đề nghị Bộ Tư pháp tặng Bằng khen 02 tập thể và 01 cá nhân.

- Tuyên truyền thông qua cuộc thi “Tìm hiểu pháp luật”: Thực hiện Kế hoạch của UBND tỉnh và Kế hoạch của Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL tỉnh, Sở Tư pháp tổ chức “Cuộc thi tìm hiểu Luật Bảo vệ môi trường”, in phát hành 70.000 phiếu dự thi cho các cơ quan, đơn vị và cá nhân trên địa bàn tỉnh tham dự. Kết quả cuộc thi có 02 tập thể và cá nhân được tặng Bằng khen của UBND tỉnh, 30 tập thể và cá nhân được tặng Giấy khen của Sở Tư pháp. Cuộc thi đã góp phần nâng cao kiến thức pháp luật về môi trường trong cán bộ, công nhân viên chức, học sinh, sinh viên và nhân dân trong tỉnh.

Tuyên truyền thông qua Câu lạc bộ pháp luật (CLBPL): Trên địa bàn tỉnh có 68 CLBPL (gồm: 61 CLBPL cấp xã, 02 CLBPL của ấp và 05 CLBPL của trường học); 198 CLB phụ nữ tìm hiểu pháp luật; 03 CLB tuổi trẻ phòng chống tội phạm; 28 CLB TGPL, 02 CLB nông dân với pháp luật và 21 CLB khác (CLB giáo dục gia đình, CLB ông bà và cháu, trẻ em nghèo,...). Các CLBPL tuyên truyền 296 cuộc, có 11.165 người dự.

- Tuyên truyền PBGDPL thông qua hoạt động của Đội Thanh niên tình nguyện Sở Tư pháp. Đội thanh niên tình nguyện tuyên truyền pháp luật và tham gia sinh hoạt tại các CLBPL, CLB tuổi trẻ phòng chống tội phạm và tại các điểm trường học được 07 cuộc, phát miễn phí 600 tờ bướm. Nội dung tuyên truyền về giao thông đường bộ, Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, phòng chống ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS, khiếu nại tố cáo,...

- Nhằm đẩy mạnh hơn nữa và thực hiện tốt công tác tuyên truyền PBGDPL, Sở Tư pháp phối hợp liên tịch với một số Sở, Ban ngành trong tỉnh trong công tác tuyên truyền PBGDPL, gồm các đơn vị: Liên Đoàn lao động tỉnh, Tỉnh đoàn, Sở Văn hoá-Thể thao và Du lịch, Hội Nông dân, Đài phát thanh - Truyền hình, Sở Giáo dục và Đào tạo, Báo Hậu Giang.

Nội dung các cuộc tuyên truyền và các loại hình tuyên truyền PBGDPL về Luật Cư trú, Luật đất đai, Luật Quản lý thuế, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới, Nghị định số 79/2007/NĐ-CP, Nghị định 158/2005/NĐ-CP, Phòng chống dịch cúm gia cầm, an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống HIV/AIDS, ma tuý, mại dâm, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Phòng chống tham nhũng, giao thông đường bộ, Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo vệ môi trường, Luật khiếu nại, tố cáo,...

- Việc thực hiện Đề án 212 của Chính phủ: Sở Tư tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án 4 của Bộ Tư pháp (thực hiện Đề án 212) và thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án, trong đó đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng Ban, đồng chí Giám đốc Sở Tư pháp làm phó Ban thường trực và thành viên là một số Sở, Ngành liên quan. Ngoài ra, các ngành Văn hoá thông tin, Thanh tra và Mặt trận Tổ quốc tỉnh cũng có kế hoạch thực hiện cho từng đề án. Về kinh phí thực hiện Đề án, năm 2008 được UBND tỉnh cấp 100 triệu đồng. Bước đầu đã in tài liệu tuyên truyền ra dân 120.000 tờ bướm và đã tổ chức cuộc thi tìm hiểu Luật Bảo vệ môi trường với hình thức trắc nghiệm.

Công tác thi hành án dân sự:

Để làm chuyển biến mạnh mẽ công tác thi hành án dân sự trên địa bàn, Sở Tư pháp tham mưu cho Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự tỉnh và phối hợp với các ngành chức năng tập trung cao cho công tác này và tăng cường công tác lãnh đạo chỉ đạo thi hành án dân sự, tăng tỷ lệ thi hành án xong về vụ việc đạt ít nhất 75% và thi hành xong về tiền đạt 55% trong số có điều kiện thi hành, hoàn thành chỉ tiêu án giao, phấn đấu giảm 10% - 15% số lượng việc thi hành án tồn đọng. 

- Tham mưu cho Hội đồng tuyển chọn chấp hành viên xét đề nghị Bộ Tư pháp bổ nhiệm 09 chấp hành viên, đã được Bộ Tư pháp quyết định bổ nhiệm 03 CHV. Tổ chức thi tuyển và tuyển dụng 18 công chức cho các đơn vị Thi hành án dân sự, giải quyết cho 05 công chức THADS nghỉ hưu, chuyển công tác, nghỉ việc; thực hiện việc điều động một số chấp hành viên giữa các cơ quan Thi hành án trong tỉnh. Số lượng biên chế hiện có 81/93 CBCC (đạt 87,09% so với biên chế được giao). Cơ quan thi hành án có 21 chấp hành viên, so với khi mới chia tách tỉnh (năm 2004) số lượng CBCC thi hành án tăng gấp đôi.

Hiện nay, có 3/8 trụ sở cơ quan thi hành án xây dựng mới, các đơn vị còn lại có trụ sở tạm hoặc thuê mướn (trong đó có cơ quan thi hành án tỉnh), cơ quan thi hành án đang tiếp tục các bước chuẩn bị cho việc xây dựng các trụ sở còn lại. 

- Thi hành án tỉnh xây dựng và triển khai thực Đề án về tổ chức biên chế, quy hoạch các chức danh chủ chốt và đào tạo bồi dưỡng cán bộ đến 2010 và 2015. Trong năm 2008, có 03 CBCC tốt nghiệp lớp cao cấp chính trị, 01 CBCC đang học cao cấp chính trị tại chức; lãnh đạo và kế toán được bồi dưỡng về nghiệp vụ chủ tài khoản, kế toán nghiệp vụ về thi hành án; 12 CBCC đang học lớp chấp hành viên.

- Xây dựng Kế hoạch kiểm tra công tác thi hành án năm 2008, tiến hành kiểm tra 7/7 đơn vị thi hành án dân sự cấp huyện về công tác thu, chi tài chính, trình tự thủ tục thi hành án đối với các vụ việc thi hành án phức tạp, tồn đọng, việc lập và ghi chép các loại sổ sách, việc thực hiện chế độ thông tin báo cáo, giải quyết khiếu nại, tố cáo,... Qua kết quả kiểm tra chưa phát hiện sai phạm, ngoại trừ một vài sai sót không đáng kể về quản lý hồ sơ, ghi chép sổ sách. Đoàn kiểm tra yêu cầu chấn chỉnh kịp thời.

- Năm 2008 không có trường hợp miễn, giảm, hỗ trợ tài chính để thi hành án vì chưa có nguồn, tuy nhiên Cơ quan thi hành đã có sự phối hợp với các cơ quan nội chính trong việc thực hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với các bị án cải tạo tốt có thực hiện phần trách nhiệm dân sự trong bản án hình sự, Cơ quan Thi hành án đã ra 424 quyết định kết thúc thi hành án và 99 giấy xác nhận  thi hành án phục vụ cho công tác đặc xá, giảm án.

- Kết quả giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về thi hành án: Cơ quan thi hành án nhận 71 đơn khiếu nại, trong đó 49 đơn thuộc thẩm quyền. Nội dung các đơn thư khiếu nại cơ quan thi hành chậm giải quyết thi hành án. Đã giải quyết xong 47 đơn (đạt 95,91%), trong đó có 01 đơn tố cáo nặc danh ở THADS huyện Phụng Hiệp, Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh đã kết hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hậu Giang xác minh kết luận, 01 đơn xin ý kiến Ban chỉ đạo thi hành tiếp tục giải quyết.

- Theo số liệu báo cáo của Cơ quan thi hành án tỉnh. Kết quả thi hành án  trong toàn tỉnh như sau: (từ ngày 01/10/2008 đến ngày 30/9/2008)

Trong năm 2008 các Cơ quan thi hành án thụ lý 4.748 vụ việc với tổng số tiền và giá trị tài sản 76.821.275.000 đồng (trong đó: Năm trước chuyển sang 1.408 vụ việc với số tiền và giá trị tài sản 29.663.469.000 đồng; Thụ lý trong năm 3.340 vụ việc với số tiền và giá trị tài sản 47.157.806.000 đồng.

Có điều kiện thi hành 4.205 vụ việc với số tiền và giá trị tài sản 50.326.637.000 đồng.

Giải quyết có kết quả 3.822 việc với số tiền và tài sản 26.825.806.000 đồng (đạt 80,49% về việc và 34,91% về tiền).

Giải quyết xong 2.966 vụ việc với số tiền và tài sản 26.825.806.000 đồng, so với số có điều kiện thi hành đạt 70,53% về việc và 53,30% về tiền .

Thu nộp cho ngân sách Nhà nước 1.469.860.000 đồng.

* Án chuyển giao cấp xã trực tiếp đôn đốc thi hành:

Tổng số việc chuyển giao cho UBND cấp xã 185 vụ việc với số tiền và tài sản 31.274.000 đồng. Số việc đã giải quyết 82 vụ việc, thu cho ngân sách nhà nước 11.576.000 đồng (đạt 43,24% về việc và 37,01% về tiền).

Công tác hành chính tư pháp:

- Công tác hộ tịch:

Triển khai thực hiện tốt Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch và văn bản hướng dẫn thi hành; Nghị định số 69/2006NĐ-CP ngày 21/7/2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Tổ chức kiểm tra, hướng dẫn công tác hộ tịch ở cơ sở nhằm giải quyết những vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện, thực hiện đề án cải cách thủ tục hành chính theo chủ trương chung, nâng chất lượng tổ “một cửa” tại Phòng hộ tịch, quy trình, thủ tục được rút ngắn rất nhiều, tạo thuận lợi và phục vụ tốt yêu cầu của người dân.

Đẩy mạnh hoạt động Ban chỉ đạo mô hình giảm tiêu cực về kết hôn có yếu tố nước ngoài; phối hợp với ngành chức năng làm tốt công tác “Phòng, chống mua bán phụ nữ và trẻ em” trên địa bàn tỉnh. Nâng chất lượng các vụ việc phỏng vấn kết hôn có yếu tố nước ngoài theo tinh thần Chỉ thị số 28/2007/CT-UBND ngày 31/10/2007 của UBND tỉnh về tăng cường công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Tạo chuyển biến mạnh trong việc làm lành mạnh hoá quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhất là quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam với người Hàn Quốc, Đài Loan. 

Việc phỏng vấn hai bên nam, nữ trong trường hợp kết hôn và ghi chú kết hôn được thực hiện bởi Hội đồng phỏng vấn nhằm kiÓm tra, lµm râ sù tù nguyÖn kÕt h«n cña hä, kh¶ n¨ng giao tiÕp b»ng ng«n ng÷ chung vµ møc ®é hiÓu biÕt hoµn c¶nh cña nhau,....

* Trong nước: Khai sinh 11.459 trường hợp (Đúng hạn 4.147 trường hợp, Quá hạn 5.050 trường hợp (chiếm tỷ lệ 44,07%), khai sinh giảm 3.110 trường hợp; Đăng ký lại 2.262 trường hợp); Đăng ký khai tử 1.937 trường hợp (tăng 247 trường hợp); Kết hôn 4.827 trường hợp (tăng 54 trường hợp); Cải chính hộ tịch 1.456 trường hợp; Cấp lại bản chính giấy khai sinh 1.116 trường hợp; Cấp bản sao giấy tờ hộ tịch 2.717 trường hợp; Nuôi con nuôi 12 trường hợp.

* Có yếu tố nước ngoài: Kết hôn 416 trường hợp (giảm 72 trường hợp) chuyển qua; Ghi chú kết hôn 722 trường hợp (giảm 391 trường hợp); Đăng ký khai sinh 37 trường hợp; Quyết định nhận, cha, mẹ con 09 trường hợp; Cải chính 06 trường hợp; Cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam 01 trường hợp; Cấp giấy chứng tử 03 trường hợp; Quyết định nhận nuôi con nuôi 06 trường hợp.

Kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp: Tiếp nhận 784 trường hợp (tăng 28 trường hợp so cùng kỳ). Giải quyết 741 trường hợp (đạt tỷ lệ 94,51%)

- Công chứng, chứng thực:

Nhìn chung, các đơn vị thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ theo Luật Công chứng, Nghị định số 79/2007/NĐ-CP. Sở Tư pháp đề nghị UBND tỉnh ra quyết định chuyển đổi Phòng Công chứng từ cơ quan hành chính sang đơn vị sự nghiệp.  Kết quả thực hiện trong năm 2008 như sau:

* Cấp tỉnh: Chứng nhận hợp đồng giao dịch 456 trường hợp (tăng 35 trường hợp); Công chứng  di chúc 09 trường hợp; thoả thuận phân chia di sản thừa kế 09 trường hợp.

* Cấp huyện: Chứng thực bản sao, giấy tờ văn bản bằng tiếng nước ngoài 14.470 trường hợp (giảm 19.055 trường hợp); Chứng thực bản dịch 468 trường hợp (tăng 386 trường hợp); Chứng thực hợp đồng các loại 237 hợp đồng; Chứng thực văn bản khai nhận thoả thuận chia di sản 256 trường hợp.

* Cấp xã: Chứng thực bản sao, giấy tờ văn bản bằng tiếng Việt 68.653 trường hợp (tăng 34.759 trường hợp); Chứng thực chữ ký 1.634 trường hợp (tăng 03 trường hợp); Chứng thực hợp đồng có liên quan đến người có QSDĐ 4.106 trường hợp; Chứng thực hợp đồng giao dịch 2.385 trường hợp; Chứng thực di chúc 326 trường hợp; Từ chối nhận di sản 576 trường hợp.

Công tác bổ trợ tư pháp:

- Công tác quản lý luật sư:

  Đoàn Luật sư tỉnh Hậu Giang gồm 09 luật sư, trong đó có 03 luật sư tập sự. Có 04 văn phòng luật sư và 01 Chi nhánh Văn phòng luật sư. Số vụ việc bào chữa 239 vụ, tổng số thuế nộp 17.137.000 đồng (tăng 5.849.000 đồng).

 Đoàn luật sư chưa có nguồn bổ sung kịp thời cho đội ngũ luật sư của tỉnh trong khi nhu cầu công việc thì ngày càng tăng nhất là các loại án chỉ định từ các cơ quan tiến hành tố tụng.

Trong năm 2008, Sở Tư pháp chỉ đạo cho Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tiến hành tổ chức Đại hội toàn thể luật sư để bầu lại Ban Chủ nhiệm chính thức và bầu đại biểu đi dự đại hội luật sư toàn quốc nhằm cũng cố và kiện toàn tổ chức và hoạt động trong thời gian tới. 

- Công tác bán đấu giá tài sản:

Đây là công tác còn nhiều mới mẻ so với một số tỉnh trong khu vực, Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản được thành lập và chính thức đi vào hoạt động vào cuối quý I/2007. Bên cạnh bán đấu giá các tài sản theo Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005, Trung tâm còn là bộ phận giúp việc cho Hội đồng bán đấu giá QSDĐ theo Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg ngày 31/8/2005.

Trong năm 2008, Trung tâm đã ký kết và triển khai 50 hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản (giá trị tài sản 61.273.700.100 đồng). Trong đó, tổ chức đấu giá hợp đồng có khách hàng tham gia đấu giá 13/50 hợp đồng, giá khởi điểm 3.747.140.901 đồng. Tổng giá trị chênh lệch so với giá khởi điểm 268.990.099 đồng. Phí nộp ngân sách 27.022.775 đồng.

- Công tác giám định tư pháp:

Tổ chức Giám định tư pháp về Văn hoá thông tin và Kỹ thuật hình sự đã giải thể. Riêng đối với Tổ chức Giám định pháp y đến nay chưa giải thể do chưa có sự thống nhất giữa các ngành có liên quan.

Toàn tỉnh hiện có 39 giám định viên tư pháp trên các lĩnh vực: Văn hoá, thông tin 05 giám định viên; Tài chính kế toán 07 giám định viên; Pháp y 21 giám định viên; Kỹ thuật hình sự 03 giám định viên; Xây dựng 03 giám định viên. Các giám định viên đã được được Bộ Tư pháp cấp thẻ.

Công tác trợ giúp pháp lý:

Trung tâm TGPL có 97 cộng tác viên (trong đó có 08 luật sư), 28 CLB TGPL (trong đó 18 CLB TGPL thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và 10 CLB TGPL của Dự án). Trung tâm trợ giúp pháp lý xây dựng Đề án về tổ chức bộ máy và biên chế Trung tâm đã được UBND tỉnh phê duyệt thành lập 02 Chi nhánh TGPL tại huyện Châu Thành và huyện Phụng Hiệp đã đi vào hoạt động. Theo đó, sắp xếp lại tổ chức của Trung tâm TGPL nhà nước theo hướng thành lập các Phòng nghiệp vụ, biên chế được giao 14. Ngoài ra, UBND tỉnh cũng đã quyết định thành lập Hội đồng Phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng. Trong năm 2008, trợ giúp pháp lý đạt kết quả như sau:

Tổng số vụ việc trợ giúp pháp lý 1.452 vụ việc (tăng 109 vụ việc), tổng số người được trợ giúp pháp lý 1.483 người. Trong đó, trợ giúp pháp lý tại Trung tâm 455 vụ việc (số lượt người được trợ giúp 455 người), trợ giúp pháp lý lưu động 43 cuộc với 997 vụ việc (số lượt người được trợ giúp 1.028 người).

Phạm vi trợ giúp (chủ yếu): Tư vấn 1.202 vụ, tư vấn phức tạp 93 vụ, hoà giải 74 vụ, bào chữa 83 vụ (trong đó đã hoàn thành 65 vụ, trợ giúp viên Trung tâm thực hiện 10 vụ). Lĩnh vực trợ giúp (chủ yếu) về hôn nhân gia đình, đất đai, hình sự, dân sự, hành chính…

Tổ trợ giúp pháp lý ở cấp huyện tư vấn pháp luật tại tổ 4.541 trường hợp. Nội dung về đất đai, dân sự, hình sự, hôn nhân gia đình, hành chính,… 

Thông qua các cuộc lưu động Trung tâm TGPL phát miễn phí 8.000 tờ gấp pháp luật các loại cho nhân dân và tổ trợ giúp pháp lý. Cung cấp 28 loại sách pháp luật và 200 quyển “Hỏi đáp về pháp luật hình sự, hộ tịch” bằng song ngữ Việt-Khơme; in ấn 4.000 quyển pháp luật song ngữ Việc-Khơme nội dung hỏi đáp một số vấn đề về Bộ luật Tố tụng dân sự và 02 băng rôn khẩu hiệu về “Trợ giúp pháp lý lưu động”, “sinh hoạt câu lạc bộ trợ giúp pháp lý” từ nguồn ngân sách “Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo”. Cử chuyên viên tham dự sinh hoạt cùng với CLB TGPL tại các xã nhằm hướng dẫn nghiệp vụ, tuyên truyền pháp luật.

Tập huấn nghiệp vụ TGPL đợt 01 cho chuyên viên, cộng tác viên và cán bộ chủ chốt CLB TGPL thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo cho 139 đại biểu tham dự, phát 120 tập tài liệu phục vụ cho hội nghị tập huấn. Ngoài ra Trung tâm còn duy trì họp giao ban hàng quý với các tổ trợ giúp pháp lý, CLB TGPL nhằm rút kinh nghiệm trong hoạt động trợ giúp pháp lý. 

Qua cuộc TGPL lưu động, Trung tâm đã tuyên truyền về Luật TGPL, Luật Đất đai, Luật Hôn nhân gia đình,... cho 474 người. Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, đã thành lập thêm 02 CLB TGPL tại hai xã nghèo Lương Nghĩa và Vĩnh Viễn A (huyện Long Mỹ), nâng tổng số lên 32 CLB TGPL.

Thực hiện quản lý tài chính, tài sản theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo chi đúng việc, đúng đối tượng.

Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo:

Ngay từ đầu năm Sở Tư pháp xây dựng và triển khai thực hiện Kế hoạch thanh tra năm 2008. Nội dung kiểm tra, thanh tra hoạt động các Phòng, Trung tâm trực thuộc về công chứng, chứng thực, hộ tịch, luật sư, trợ giúp pháp lý, bán đấu giá tài sản, việc thực hành tiết kiệm chống lãng phí, chống tham nhũng,…và một số hoạt động khác trong phạm vi quản lý nhà nước của Sở Tư pháp. Sở Tư pháp tổ chức đợt kiểm tra công tác xây dựng văn bản và tuyên truyền PBGDPL tại 7/7 huyện, thị xã, một số xã, phường, thị trấn trong tỉnh, kiểm tra hướng dẫn công tác hộ tịch, chứng thực; kiểm tra tổ chức và hoạt động của Đoàn luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư. Qua đó, đã kịp thời chấn chỉnh thiếu sót trong công tác chuyên môn và hoạt động luật sư trên địa bàn tỉnh.

Trong năm 2008, Sở Tư pháp nhận 06 đơn khiếu nại chậm giải quyết thi hành án, Thanh tra Sở đã chuyển cho cơ quan thi hành án giải quyết theo thẩm quyền và phát hiện 02 trường hợp có hành vi gian dối trong đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài (01 trường hợp Thanh tra Sở ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, 01 trường hợp Thanh tra Sở phối hợp với Phòng Hộ tịch tiến hành xác minh, xử lý theo quy định).

Thực hiện tốt chế độ thông tin báo cáo, báo cáo kịp thời kết quả thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo đến cơ quan thẩm quyền.

Công tác tổ chức, xây dựng ngành và đào tạo cán bộ:

Kiện toàn tổ chức bộ máy và biên chế Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và Ban Tư pháp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang theo Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT/BTP-BNV ngày 05/5/2005, từng bước nâng cao năng lực quản lý điều hành và năng lực chuyên môn cho CBCC tư pháp trong toàn tỉnh. Tại 7/7 huyện, thị đều có Phòng Tư pháp và 71/71 xã, phường, thị trấn đều có Ban Tư pháp.

Năm 2008 đã tuyển dụng 05 cán bộ, công chức, viên chức cho các Phòng, Trung tâm trực thuộc. Biên chế được phân bổ năm 2008 là 50, trong đó biên chế hành chính là 23, biên chế sự nghiệp là 27. Đến nay biên chế hiện có là 46, trong đó biên chế hành chính là 23, biên chế sự nghiệp là 23, còn thiếu 04 biên chế sự nghiệp theo phân bổ.

Cử 02 công chức tham gia lớp Cao cấp chính trị, 04 công chức tham gia lớp bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên, 03 công chức tham gia lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng (đối tượng 3), 01 công chức tham gia lớp nghiệp vụ công chứng. Đề nghị UBND tỉnh trình Hội đồng nhân dân xin bổ sung thêm 01 công chức tư pháp - hộ tịch cho cấp xã.

Phối hợp với Trường đại học luật Hà Nội mở 01 lớp trung học luật (đến nay đã thi tốt nghiệp) và 01 lớp đại học luật (đang học năm thứ 4) tổng cộng trên 200 học viên, chủ yếu là cán bộ tư pháp.

Trên địa bàn tỉnh có 71 Ban hoà giải và 527 Tổ hoà giải với 3.582 thành viên. Sở Tư pháp thường xuyên quan tâm kiện toàn đội ngũ làm công tác hoà giải và nâng dần chất lượng hoà giải nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.

Đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản từng bước được củng cố, kiện toàn, hàng năm đều được tập huấn về kỹ năng công tác xây dựng văn bản, kiểm tra văn bản.

Nhằm phát huy hiệu quả thiết thực trong công việc, tăng cường trách nhiệm cá nhân của mỗi cán bộ lãnh đạo, Sở Tư pháp quy định chế độ họp giao ban hàng tuần trong Ban Giám đốc và họp giao ban hàng tháng giữa Ban Giám đốc với lãnh đạo các Phòng, Trung tâm trực thuộc để kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện công việc trong tháng và triển khai công việc của tháng tiếp theo.

Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ cơ quan; Quy chế làm việc của Chi bộ, của lãnh đạo Sở Tư pháp Hậu Giang,... Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ quan, tập thể đoàn kết, Chi bộ trong sạch vững mạnh, cán bộ đảng viên trong toàn đơn vị đều tham gia thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, học tập các Nghị quyết của Đảng,... Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ quan, tập thể đoàn kết, tổ chức đảng và các đoàn thể trong sạch, vững mạnh, không có CBCC, đảng viên, đoàn viên vi phạm kỷ luật.

 Các công tác khác:

- Công tác pháp chế, sở, ngành, doanh nghiệp:

Có 19 Sở, ban ngành thuộc UBND tỉnh và 5 doanh nghiệp Nhà nước thành lập tổ pháp chế với 64 thành viên, mỗi tổ pháp chế tối đa 03 cán bộ phụ trách (trong đó có 01 cán bộ chuyên trách). Ngoài ra, một số doanh nghiệp căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị khi có nhu cầu thuê cố vấn pháp lý để thực hiện những vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động đơn vị mình. Trong năm, thành viên các tổ pháp chế đã dự tập huấn về công tác pháp chế do Bộ Tư pháp tổ chức.

Nhìn chung, các tổ pháp chế từng bước được kiện toàn, thực hiện vai trò tham mưu cho lãnh đạo trong lĩnh vực pháp luật, những vấn đề liên quan đến pháp luật, tham gia xây dựng pháp luật, tuyên truyền PBGDPL, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để phát hiện và đề xuất, kiến nghị điều chỉnh những văn bản thiếu tính khả thi hoặc có nội dung trái pháp luật.

- Công tác cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động chuyên môn:         

Theo tinh thần Quyết định số 127/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc làm việc vào ngày thứ bảy. Do đặc thù của địa phương, ở hai lĩnh vực công chứng và hộ tịch hiện nay công việc chưa nhiều do đó UBND tỉnh chỉ đạo chưa thực hiện.

Sở Tư pháp thực hiện việc cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” từ năm 2006 trên hai lĩnh vực Công chứng và Hộ tịch, cải cách thủ tục hành chính từ khâu tiếp nhận hồ sơ của công dân đến khâu xử lý và giao trả hồ sơ được thực hiện khoa học, chặt chẽ, không gây phiền hà cho công dân khi đến yêu cầu giải quyết công việc, đã rút ngắn rất nhiều về quy trình nghiệp vụ; tại bộ phận “một cửa” đều có niêm yết công khai và đầy đủ các quy định pháp luật về hộ tịch, công chứng, có thùng thư góp ý và thiết lập đường dây điện thoại nóng để tổ chức, cá nhân liên hệ khi có yêu cầu. Việc kiểm tra, hướng dẫn công tác hộ tịch, chứng thực ở các huyện, thị trong tỉnh được thực hiện thường xuyên, nhằm giải quyết những vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện ở cơ sở, tạo sự thống nhất chung trong quá trình giải quyết và quản lý công tác này.

- Thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Luật Phòng, chống tham nhũng.

Sở Tư pháp xây dựng kế hoạch cụ thể thực hiện nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng, chống tham nhũng thông qua Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật của tỉnh, các cơ quan báo, đài tại địa phương tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Luật Phòng, chống tham nhũng cho toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, doanh nghiệp và quần chúng nhân dân trong tỉnh.

Sở Tư pháp đã xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ trong việc sử dụng kinh phí, cũng như sử dụng tài sản công đảm bảo tiết kiệm hiệu quả. Việc quản lý, sử dụng kinh phí của các đơn vị có tài khoản độc lập như Phòng Công chứng, Trung tâm TGPL, Thi hành án tỉnh định kỳ 6 tháng và một năm lãnh đạo các đơn vị này đều có công khai tài chính năm trước và dự toán kế hoạch tài chính năm sau cho CBCC toàn đơn vị biết. Việc quản lý tài sản của cơ quan đơn vị thực hiện chặt chẽ, có biện pháp giáo dục tinh thần bảo vệ của công, trách nhiệm của cá nhân trong việc đảm bảo sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, chống thất thoát, hư hỏng tài sản của Nhà nước.

- Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan, văn hoá nơi công sở:

Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan là cơ sở thiết thực nhất giúp cho cán bộ, đảng viên và toàn thể công chức trong toàn cơ quan nhận thức được vị trí, vai trò và trách nhiệm của bản thân đối với hiệu quả hoạt động của đơn vị nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ.

            Để đảm bảo quyền dân chủ của cán bộ, công chức trong toàn cơ quan được thực hiện có hiệu quả thì vai trò của Ban Giám đốc và lãnh đạo các Phòng, Trung tâm trực thuộc trong việc lãnh đạo, chỉ đạo điều hành bộ máy hoạt động của cơ quan đòi hỏi phải được tiến hành một cách khoa học, kịp thời, nhịp nhàng. Xuất phát từ yêu cầu này, Sở Tư pháp ban hành Quy chế thực hiện dân chủ cơ quan; Quy chế làm việc của Chi bộ, của lãnh đạo Sở Tư pháp.

            Nhằm phát huy hiệu quả thiết thực trong công việc, tăng cường trách nhiệm cá nhân của mỗi cán bộ lãnh đạo, Sở Tư pháp quy định chế độ họp giao ban hàng tháng giữa Ban Giám đốc với lãnh đạo các Phòng, Trung tâm trực thuộc để kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện công việc trong tháng và triển khai công việc của tháng tiếp theo.

            Ban Giám đốc luôn thông tin cho Công đoàn và Đoàn Thanh niên về tình hình, chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của CBCC, đồng thời tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất để 02 tổ chức này hoạt động sôi nổi, thiết thực.

- Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo:

 Về việc thực hiện chế độ báo cáo, trong năm qua một số đơn vị còn xem nhẹ và thiếu quan tâm việc thực hiện chế độ thông tin báo cáo, chậm trễ hoặc không báo cáo, số liệu báo cáo thiếu chính xác. Do đó, đã gây không ít khó khăn cho việc tổng hợp thông tin về hoạt động của ngành cũng như kịp thời báo cáo về trên.

Hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ ngành Tư pháp:

Năm 2008 có 100% phụ nữ ngành Tư pháp đăng ký thi đua “Phụ nữ hai giỏi”. Nhân kỷ niệm các ngày 8/3 và ngày 20/10 Ban giám đốc Sở Tư pháp cùng với Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ và Công đoàn tổ chức họp mặt chị em phụ nữ trong ngành, sinh hoạt truyền thống, tặng quà cho chị em phụ nữ trong đơn vị. Đặc biệt, thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cơ quan đã cử 01 công đoàn viên nữ tham gia cuộc thi kể chuyển về Bác Hồ do Ban Dân vận Tỉnh uỷ tổ chức (đạt giải A). Công tác đào tạo, bố trí cán bộ của ngành luôn được quan tâm, đảm bảo yếu tố bình đẳng giới, tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ.

Công tác thi đua, khen thưởng:

Trên cơ sở chương trình, kế hoạch và mục tiêu thi đua của ngành và UBND tỉnh, Sở Tư pháp đã xây dựng Kế hoạch thi đua với những nội dung thi đua cụ thể và mốc thời gian thực hiện. Phong trào thi đua phát động đã khơi dậy và phát huy tinh thần đoàn kết, vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. 

Thực hiện Kế hoạch của Bộ Tư pháp về phát động đợt thi đua đặc biệt năm 2008 và Kế hoạch của Hội đồng Thi đua-Khen thưởng tỉnh về thực hiện đợt thi đua chào mừng kỷ niệm 60 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua Ái quốc (11/6/1948-11/6/2008), thi đua thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thi đua kỷ niệm 5 năm ngày thành lập tỉnh,... Trên tinh thần đó, Sở Tư pháp xây dựng Kế hoạch và phát động phong trào thi đua đến toàn thể CBCC trong cơ quan, từng đơn vị tổ chức thực hiện, kịp thời biểu dương, đề nghị khen thưởng tập thể, cá nhân, điển hình, nhân tố mới trong phong trào thi đua.

Năm 2008, Sở Tư pháp được Hội đồng Thi đua khen thưởng tỉnh cử làm Trưởng khối thi đua các cơ quan nội chính. Sở Tư pháp đã chủ động triển khai Kế hoạch thi đua năm 2008 của Hội đồng Thi đua-Khen thưởng tỉnh đến các thành viên trong khối, đồng thời ký kết giao ước thi đua, xây dựng thang điểm thi đua, đảm bảo cho việc xét khen thưởng và phong trào thi đua đạt hiệu quả, chất lượng.

Phòng Văn bản - Tuyên truyền, Sở Tư pháp Hậu Giang