I- THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC TƯ PHÁP
1. Báo Đầu tư chứng khoán có bài Thi hành án tại Xi măng Hoàng Liên Sơn: Một vấn đề hai cách hiểu. Bài báo phản ánh: Ông Nguyễn Minh Sơn, Chủ tịch HĐQT CTCP Xi măng Hoàng Liên Sơn cho biết, kể từ khi ông nhận vị trí này vào tháng 12/2011, ông liên tục nhận được yêu cầu thi hành 2 bản án của TAND TP. Lào Cai.
Ông Nguyễn Minh Sơn, Chủ tịch HĐQT CTCP Xi măng Hoàng Liên Sơn cho biết, kể từ khi ông nhận vị trí này vào tháng 12/2011, ông liên tục nhận được yêu cầu thi hành 2 bản án của TAND TP. Lào Cai, tuyên bố Công ty phải trả cho Công ty Thương mại Lương Hà 504 triệu đồng và trả cho Công ty Phú Hà 152 triệu đồng. Đến ngày 12 và 14/9/2012, Chi cục Thi hành án TP. Lào Cai đã đến Công ty niêm phong một chiếc xe Toyota và thu một xe tải, trong đó xe tải được mua sau khi ông tiếp nhận vị trí Chủ tịch HĐQT.
Ông Sơn cho rằng, trách nhiệm thi hành bản án nói trên thuộc về ông Lỗ Đắc Hạnh, nguyên Chủ tịch HĐQT Công ty, chứ không phải ông.
Theo ông Sơn, trong quá trình bàn giao vị trí Chủ tịch HĐQT (ông Sơn nhận cổ phần Công ty để trừ nợ cho ông Hạnh), các bên gồm có ông Lỗ Đắc Hạnh, ông Nguyễn Minh Sơn và một số người có liên quan như: ông Nguyễn Ngọc Quỳnh (Giám đốc Công ty), ông Dương Minh Tân (Kế toán trưởng), đại diện Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương đã cùng ký vào văn bản thỏa thuận tự xác định lại trị giá tài sản và xác nhận khoản nợ phải trả của Công ty. Văn bản thỏa thuận có sự chứng thực của Văn phòng Công chứng số 2 (Lào Cai) xác nhận, ông Nguyễn Minh Sơn chỉ có trách nhiệm phải trả khoản nợ gốc và lãi gần 29 tỷ đồng mà Công ty Xi măng Hoàng Liên Sơn vay ngân hàng. Còn tất cả các khoản nợ hoặc vay khác của ông Hạnh dưới danh nghĩa cá nhân hay dưới danh nghĩa Công ty, ông Hạnh phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với các khoản nợ này.
Tuy nhiên, trao đổi với báo chí, đại diện Chi cục Thi hành án TP. Lào Cai cho biết, theo Bản án số 05/KDTM/2011 và Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự số 05 ngày 21/9/2011 của TAND TP. Lào Cai, CTCP Xi măng Hoàng Liên Sơn do ông Lỗ Khắc Hạnh làm đại diện theo pháp luật phải trả cho Công ty Thương mại Lương Hà 504 triệu đồng và Công ty Phú Hà 152 triệu đồng. Hết thời gian tự nguyện thi hành án, Chi cục Thi hành án đã thực hiện biện pháp cưỡng chế tài sản để đảm bảo thi hành án. Đối tượng thi hành án là Công ty Xi măng Hoàng Liên Sơn, người đại diện theo pháp luật trước kia là ông Lỗ Khắc Hạnh, hiện nay là ông Nguyễn Minh Sơn.
Về vụ việc này, luật sư Nguyễn Văn Kiệm (Hà Nội) khuyến nghị, ông Nguyễn Minh Sơn nên có đơn đề nghị tạm hoãn thi hành án và có văn bản đề nghị TAND TP. Lào Cai giải thích rõ trách nhiệm trả nợ hiện tại thuộc về Công ty Xi măng Hoàng Liên Sơn hay ông Lỗ Khắc Hạnh.
2. Báo Người cao tuổi có bài Điều không bình thường từ một bản kháng nghị của TAND Tối cao. Bài báo phản ánh: Vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là vợ chồng bà Lưu Thị Hoàng Anh - ông Phạm Xuân Mừng, thường trú tại 244 Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, TP Hà Nội với bị đơn là ông Trần Văn Thơm, thường trú tại 424 Trần Khát Chân, quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội và Công ty TNHH Thương mại Hồng Lan, trụ sở 287, phố Khâm Thiên, quận Đống Đa, TP Hà Nội đã được TAND quận Tây Hồ, TAND TP Hà Nội xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Bản án số 250/DS-PT ngày 30-12-2011 của Tòa phúc thẩm dân sự TP Hà Nội đã có hiệu lực thi hành. Đây là một bản án được dư luận và nhiều cơ quan báo chí khẳng định là nghiêm minh, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, do bản chất cay cú, lật lọng, thiếu trung thực của phía bị đơn, đặc biệt bà Trần Kim Phương, Phó Giám đốc Công ty Hồng Lan triệt để lợi dụng "mối quan hệ" của chồng nên trong quá trình vụ án được đưa ra xét xử, Công ty Hồng Lan tìm mọi cách chống đối, phản bác, thậm chí thóa mạ, thách thức cả cán bộ Tòa án. Do đó, ngay sau khi phiên Tòa phúc thẩm của TAND TP Hà Nội kết thúc, đại diện Công ty Hồng Lan tuyên bố sẽ "chạy" và kiên quyết chống đến cùng việc thi hành án.
Ngày 24-5-2012, ông Tống Anh Hào, Phó Chánh án TAND Tối cao kí Quyết định số 173/2012/KN-DS kháng nghị đối với Bản án Phúc thẩm dân sự ngày 30-12-2012 của TAND TP Hà Nội. Nội dung bản kháng nghị này nhận xét thiếu khách quan, không thỏa đáng, không công bằng. Chỉ riêng việc TAND Tối cao cố tình để chậm thời gian gửi Bản kháng nghị đã là một điều khó hiểu. Tại sao Quyết định kháng nghị do ông Tống Anh Hào kí ngày 24-5-2012 mà mãi đến ngày 10-9-2012 (tức sau 3 tháng 16 ngày), TAND quận Tây Hồ mới nhận được bản kháng nghị? Theo Luật định thì Quyết định kháng nghị bản án phải được gửi ngay đến cơ quan thi hành án. Theo ông Nguyễn Thành Đông, cán bộ chấp hành viên của Chi cục Thi hành án quận Tây Hồ, đến ngày 20-9-2012 cơ quan ông cũng chưa nhận được Quyết định kháng nghị của TAND Tối cao. Ông Đông cho biết thêm, cũng trong vụ án này, ngày 28-2-2012, ông Tống Anh Hào đã kí Công văn yêu cầu hoãn thi hành án thì ngay ngày hôm sau, Chi cục Thi hành án quận Tây Hồ đã nhận được công văn của ông Hào gửi chuyển phát nhanh đến. Điều không bình thường nữa là cho đến nay các đương sự là nguyên đơn trong vụ án như vợ chồng bà Lưu Thị Hoàng Anh - ông Phạm Xuân Mừng cũng chưa nhận được Quyết định kháng nghị của TAND Tối cao. Theo khoản 1, Điều 290, Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: "Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải được gửi ngay cho Tòa án ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, các đương sự, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị".
Như vậy, việc TAND Tối cao chậm trễ gần 4 tháng mới gửi Bản kháng nghị cho Tòa án cấp dưới, không gửi Bản kháng nghị cho cơ quan thi hành án và các đương sự liệu có gì mờ ám, thiếu minh bạch? Tại sao ông Phó Chánh án TAND tối cao lại có thể tự cho mình cái quyền coi thường những nguyên tắc đã được luật pháp quy định? Việc làm này không chỉ gây bức xúc, khó hiểu cho Tòa án cấp dưới, các đương sự, cơ quan thi hành án dân sự mà còn tạo sự hoài nghi, thiếu tin tưởng vào động cơ và cả nội dung của bản kháng nghị.
3. Trang VietQ.vn có bài Công ty Ánh Bình Minh bị "tố" hành xử côn đồ, chây ì thi hành án. Bài báo phản ánh: Theo đơn tố cáo của ông Nguyễn Văn Út - Giám đốc Công ty TNHH Bình Minh (Công ty Bình Minh) xã An Thắng, huyện An Lão, Hải Phòng, ngày 02/08/2009, Công ty Bình Minh có ký hợp đồng giao khoán làm thủ tục thuê đất số 01/BM-HĐ với Công ty Cổ phần Ánh Bình Minh (Công ty Ánh Bình Minh) do ông Nguyễn Thế Nguyên làm Giám đốc, có trụ sở tại xã An Tiến (An Lão, Hải Phòng).viewType=left;url=TIN LIÊN QUAN;width=300;height=250;
Theo hợp đồng, ông Nguyên cam kết nhượng lại cho Công ty Bình Minh một phần đất 30.000m2 mà Công ty ông Nguyên đang sử dụng với giá 300.000VNĐ/m2. Sau khi ký hợp đồng, ông Nguyên đã nhận của Công ty Bình Minh số tiền 2,3 tỉ đồng theo nội dung hợp đồng đã ký kết, thời hạn thực hiện là 4 tháng. Tuy nhiên, đã gần 4 năm trôi qua việc thực hiện hợp đồng đã ký kết vẫn “dậm chân tại chỗ”.
Ngày 02/10/2010, ông Nguyên có mời đại diện Công ty Bình Minh họp bàn giải quyết vấn đề hai bên và đề nghị xin gia hạn thực hiện hợp đồng thêm 6 tháng. Đồng thời bàn giao cho Công ty Bình Minh 10.000m2 đất do Công ty ông Nguyên đang sử dụng và hẹn sau 6 tháng sẽ hoàn thành mọi thủ tục cho Công ty Bình Minh. Sau đó, Công ty Bình Minh đã có đơn kiện gửi đến Tòa án Nhân dân huyện An Lão. Ngày 32/9/2011, TAND huyện An Lão mở phiên toàn xét xử sơ thẩm. Tòa tuyên hợp đồng ký kết giữa hai công ty vô hiệu, buộc Công ty Ánh Bình Minh phải trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm giữ và bồi thường thiệt hại cho Công ty Bình Minh số tiền là 2,7 tỉ đồng. Sau đó, ông Nguyên đã làm đơn chống án lên TAND TP Hải Phòng.
Ngày 26/12/2011, TAND TP Hải Phòng mở phiên tòa phúc thẩm, kết luận của Tòa không thay đổi, Tòa chỉ giảm nhẹ thiệt hại do Công ty Ánh Bình Minh gây lên với lý do: “Bên công ty Bình Minh đã không tìm hiểu kỹ đối tác nên đã chia lỗi theo tỉ lệ Công ty Bình Minh chiếm 40%, Công ty Cổ phần Ánh Bình Minh chiếm 60%”, tức là tổng số tiền Công ty Ánh Bình Minh phải trả lại cho Công ty Bình Minh là 1,8 tỉ. Quyết định của 2 phiên tòa đã được Chi cục Thi hành án huyện An Lão tiếp nhận. Tuy nhiên, đến nay, việc thi hành án của Công ty Ánh Bình Minh vẫn chưa thực hiện theo bản án của TAND TP Hải Phòng.
viewType=left;url=TIN LIÊN QUAN;width=300;height=250;Trao đổi với chúng tôi, ông Vũ Văn Biên, Phó chi cục trưởng Chi cục Thi hành án huyện An Lão cho biết, sau khi nhận được đơn yêu cầu thi hành án của Công ty Bình Minh và bản án của TAND TP Hải Phòng, Chi cục đã ban hành Quyết định số 143, ngày 13/3/2012 về việc thi hành án theo đơn yêu cầu của Công ty Bình Minh, đồng thời đã tống đạt quyết định trên tới Công ty Ánh Bình Minh, tiến hành các bước theo quy định để tổ chức thực hiện Quyết định 143.
Theo đó, đã nhiều lần (7 lần) gửi giấy triệu tập ông Nguyên đến Cơ quan Thi hành án làm việc, tuy nhiên, bằng nhiều lý do, ông Nguyên vẫn không đến.
Như vậy, ông Nguyên đã cố tình lấn tránh, không hợp tác với Cơ quan Thi hành án huyện, buộc Cơ quan Thi hành án phải đăng thông báo trên Báo Pháp luật Việt Nam triệu tập ông Nguyên đến làm việc. Sau ngày 30/9/2012 hết hạn theo luật định, Chi cục Thi hành án huyện sẽ tiếp tục xác minh tài sản của Công ty Ánh Bình Minh để cưỡng chế thi hành.
Thời gian qua, Chi cục Thi hành án huyện cũng đã gửi công văn đến 13 ngân hàng nơi Công ty Bình Minh mở tài khoản, tuy nhiên tài khoản của Công ty Ánh Bình Minh mở ra nhưng không có tiền trong tài khoản nên cũng khó để áp dụng biện pháp cưỡng chế buộc Công ty Ánh Bình Minh phải thi hành án theo bản án đã tuyên để bồi thường cho Công ty Bình Minh.
4. Báo Công an thành phố Hồ Chí Minh có bài Huyện Củ Chi: Nhiều dấu hiệu lừa đảo trong một vụ bán đất. Bài báo phản ánh: Chị Lê Ngô Hồng Thảo (SN 1992, ngụ Q3) gởi đơn đến Báo CATP tố cáo bà Đoàn Thị Phú (SN 1960, ngụ tổ 1, ấp 6A, xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi) đã bán cho chị một mảnh đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng công chứng Đất Việt chứng. Khi đến địa phương làm thủ tục đăng bộ, chị Thảo mới bật ngửa vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) mang tên bà Phú là giả.
Theo đơn tố cáo, “vào ngày 23-12-2011 chị Thảo thông qua Văn phòng công chứng Đất Việt (trụ sở tại 8/1A Tô Ký, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn) ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất số 2265/HĐGD cho thửa đất số 723, 724, 725, 726 tờ bản đồ số 18, tọa lạc xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, đã được cấp sổ đỏ mang số 496 do UBND huyện Củ Chi cấp ngày 28-1-2008, với giá 900 triệu đồng. Hợp đồng chuyển nhượng trên do công chứng viên Vũ Thị Vĩnh chứng nhận. Cùng ngày, chị Thảo ký tiếp một hợp đồng cho bà Đoàn Thị Phú thuê lại thửa đất trên với giá 30 triệu đồng/tháng. Đồng thời, giữa chị và bà Phú đã ký kết một biên bản thỏa thuận cho phép bà Phú trong thời gian 6 tháng, nếu có nhu cầu mua lại đất thì sẽ ưu tiên bán lại mảnh đất cho bà Phú, nếu sau ngày 23-6-2012 bà Phú không có nhu cầu mua lại thì chị Thảo sẽ tiến hành sang tên, đăng bộ.
Sau khi ký hợp đồng cho thuê đất nhưng không thấy bà Phú trả tiền thuê, ngày 8-5-2012, chị Thảo mang sổ đỏ đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Củ Chi kiểm tra thì mới tá hỏa vì tại mảnh đất trên, người đứng tên mảnh đất không phải bà Phú mà là ông Nguyễn Văn Sáu (SN 1956, chồng bà Phú). Chị Thảo cùng gia đình nhiều lần yêu cầu trả lại tiền nhưng không gặp, người nhà bà Phú đều nói bà đi vắng.
Chị Thảo cho biết, “khi bán đất bà Phú đã đưa ra nhiều giấy tờ kèm với sổ đỏ. Trong đó có giấy cam kết mang tên ông Nguyễn Văn Sáu ngày 30-11-2011, có nội dung ông Sáu nhìn nhận việc tạo lập tài sản nêu trên là do công sức và tiền của riêng bà Phú, ông Sáu không đóng góp gì nên không khiếu nại tranh chấp, có xác nhận của chủ tịch UBND xã Bình Mỹ. Đơn yêu cầu cung cấp thông tin ký ngày 9-11-2011 xác nhận thửa đất là của bà Đoàn Thị Phú, có xác nhận của UBND xã Bình Mỹ. Bản trích sao tờ khai nộp tiền trước bạ đất của Chi cục Thuế Củ Chi cấp cho bà Đoàn Thị Phú, có ký tên đóng dấu của Phó chi cục Thuế huyện Củ Chi?...
Tiếp chúng tôi, ông Lý Trần Phương - cán bộ địa chính xã Bình Mỹ - đã khẳng định: “Mảnh đất mang số 496/QSDĐ/HTH có diện tích 2439,2 m2 hiện mang tên ông Nguyễn Văn Sáu. Vào ngày 5-9-2007, ông Sáu đã thực hiện tách 334,7m2 cho con gái. Ông Phương khẳng định tờ giấy yêu cầu cung cấp thông tin về mảnh đất là giả. Bởi lẽ khi xã xác nhận những gì liên quan về đất đai cho người dân thì chính ông là người viết nội dung xác nhận nhưng nét chữ xác nhận không phải của ông. Chữ ký, con dấu trong bản xác nhận giấy cam kết mang tên Nguyễn Văn Sáu cũng không phải của UBND xã Bình Mỹ.
Trung tá Trần Văn Thành - Trưởng công an xã Bình Mỹ - cũng cho biết: thời gian gần đây không phải chỉ có chị Lê Ngô Hồng Thảo đến địa phương tìm bà Phú mà có nhiều người đến địa phương trình báo việc liên quan đến bà Phú. Công an xã Bình Mỹ đã lập hồ sơ ba vụ việc, chuyển Công an huyện Củ Chi thụ lý. Hiện bà Phú vẫn đang sinh sống tại địa phương nhưng khi chính quyền xã mời, bà Phú rất ít khi đến.
Được biết, vụ việc của chị Thảo tố cáo hiện đã được chuyển đến Phòng CSĐTTP về TTXH thụ lý. Nhiều vụ việc liên quan đến bà Phú thuộc thẩm quyền điều tra của CAH Củ Chi cũng đã được chuyển hồ sơ về Phòng CSĐTTP về TTXH, Công an TPHCM để điều tra, làm rõ.
Đề nghị Sở Tư pháp TPHCM cần sớm có biện pháp quản lý chặt chẽ hoạt động của các phòng công chứng tư trên địa bàn.
5. Báo Công an nhân dân có bài Điều tra bổ sung vụ công chứng viên câu kết với người ngoài lừa đảo chiếm đoạt tiền ngân hàng. Bài báo phản ánh: TAND TP HCM vừa ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung vụ án “lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ và vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động các tổ chức tín dụng” đối với các bị can Dương Ngọc Phượng, Phan Thanh Vân (nguyên công chứng viên Phòng công chứng số 2, TP HCM), Lê Tấn Phú và Hoàng Anh Tú (cùng là cán bộ tín dụng và Tổ trưởng kinh doanh Ngân hàng TMCP Nam Á - chi nhánh Bình Tây, TP HCM).
Theo tòa, quyết định trả hồ sơ là cần thiết để điều tra thêm số tiền bị can Dương Ngọc Phượng lừa đảo, chiếm đoạt của ngân hàng dùng để vào việc gì. Trước đó, tại phiên tòa xét xử vào ngày 27/9, Phượng khai đã dùng một phần tiền này để mua bất động sản nhưng hồ sơ vụ án chưa được thể hiện.
Theo nội dung vụ án, với thủ đoạn giả chữ ký của chủ sở hữu để chuyển dịch bất hợp pháp tài sản sang tên người khác, sau đó dùng tài sản này để thế chấp vay tiền của ngân hàng thông qua 6 hợp đồng tín dụng, từ tháng 10/2007 đến 7/2009, Phượng đã chiếm đoạt của Ngân hàng TMCP Nam Á - chi nhánh Bình Tây số tiền 4,05 tỷ đồng. Tạo điều kiện cho Phượng chiếm đoạt số tiền trên trót lọt có sự tiếp tay của công chứng viên Phòng công chứng số 2, TP HCM.
Theo đó, do có mối quan hệ từ trước và có vay tiền của Phượng, Phan Thanh Vân đã không thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của công chứng viên khi ký công chứng các hợp đồng mua bán nhà do Phượng lập giả, tạo điều kiện cho Phượng chuyển dịch bất hợp pháp 6 giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, đất và sử dụng tài sản này để vay tiền ngân hàng.
Đối với Lê Tấn Phú và Hoàng Anh Tú, trong quá trình được giao thẩm định 6 hồ sơ vay của Phượng, đã không tiến hành thẩm tra tài sản thế chấp, tính khả thi của phương án vay vốn, tạo cơ sở cho Phượng sử dụng tài sản bất hợp pháp thế chấp ngân hàng vay tiền.
Quá trình điều tra cũng như tại tòa, Phượng khai để việc lừa đảo trót lọt, Phượng phải chi từ 20 đến 50 triệu đồng/hồ sơ công chứng, cho Vân 500.000 đồng nên không phải ký tên, lăn tay trước mặt công chứng viên và chi cho Lê Tấn Phú từ 5 đến 7% trên tổng số tiền vay được để qua được khâu thẩm định. Tuy nhiên, những đối tượng liên quan không thừa nhận việc nhận tiền này.
6. Báo Thanh niên Online có bài Bỏ trốn vì nợ tiền tỉ. Bài báo phản ánh: Công an Q.Sơn Trà (TP.Đà Nẵng) cho biết bà Nguyễn Thị Thu Hà (32 tuổi, trú tại tổ 34, P.Mỹ An, Q.Ngũ Hành Sơn, TP.Đà Nẵng) là Trưởng văn phòng công chứng Trung Việt (trụ sở tại 626 Ngô Quyền, Q.Sơn Trà) đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú cùng chồng là Nguyễn Văn Minh Trung (32 tuổi) từ ngày 20.9. Cũng theo Công an Q.Sơn Trà, đơn vị này đang thụ lý 5 đơn tố cáo vợ chồng bà Hà chiếm đoạt tài sản của các nạn nhân với số tiền 5 tỉ đồng. Nhiều thông tin của người dân còn cho biết bà Hà nợ trên 10 tỉ đồng, không còn khả năng chi trả. Vụ việc đang được cơ quan chức năng tiếp tục điều tra.
7. Báo Người cao tuổi có bài Tỉnh Tiền Giang: Công chứng viên tiếp tay “kẻ cướp”?. Bài báo phản ánh: Mặc dù đã kí hợp đồng sang nhượng và nhận đủ tiền trước đó 8 năm, nhưng vì tham nên ông Trần Văn Thuận đã lén lút làm thủ tục khai nhận đất với ý đồ chiếm đoạt... Song, điều đáng nói, thủ đoạn “ăn cướp” ấy lại được các công chứng viên nối giáo, tiếp tay...
Ngày 14-10-2001, bà Nguyễn Thị Triệu, trú tại 5A/2 đường Trần Phú, Phường 4, Quận 5, TP Hồ Chí Minh mua của ông Trần Văn Khương mảnh đất 2.163m2 tại xã Đạo Thạnh, TP Mỹ Tho với giá 160 cây vàng. Hợp đồng mua bán được tất cả các thành viên trong gia đình ông Khương cùng kí tên.
Hơn 4 tháng sau (tháng 2-2002), ông Khương mất. Chiểu theo di chúc của ông (vợ ông Khương mất năm 2008, không để lại di chúc), ngày 29-12-2003, bà Triệu cùng ông Trần Văn Thuận (con trai ông Khương, ngụ tại 162/31 Phan Đăng Lưu, Phường 4, quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh) đến Văn phòng Luật sư kí giấy cam kết. Theo đó, ông Thuận nhận 50 cây vàng là tiền bán đất do bà Triệu giao theo Hợp đồng mua bán năm 2001 (như vậy, ông Thuận đã nhận đủ phần của mình theo di chúc, phần còn lại là của em gái ông - bà Hòa, tức Ya-su-ka-wa, bà này đã có giấy ủy quyền cho bà Triệu). Trước sự chứng kiến của luật sư, sau khi nhận đủ vàng, ông Thuận cam kết “không khiếu nại, tranh chấp gì đến lô đất và sẵn sàng kí tên trên các giấy tờ thủ tục để chuyển quyền sử dụng đất cho bà Triệu”. Đồng thời, giao đầy đủ sổ đỏ, di chúc cũng như những giấy tờ cần thiết khác cho bà Triệu.
Do mải làm ăn và tin vào cam kết nói trên của ông Thuận nên bà Triệu chưa vội làm thủ tục sang tên. Bỗng nhiên, tháng 7-2012, bà thấy mảnh đất của mình bị Nhà thờ Mỹ Tho rào lại. Tìm hiểu, được biết, ông Thuận đã kí thỏa thuận nhượng cho Nhà thờ toàn bộ mảnh đất này với số tiền 9,6 tỉ đồng. Để có tư cách nhượng đất, nhận tiền, ông đã đến Phòng Công chứng số 1 tỉnh Tiền Giang lập văn bản kê khai di sản thừa kế. Tại đây, ông khẳng định cha mình chết không để lại di chúc rồi đưa ra bản từ chối nhận di sản thừa kế của em gái (bà Hòa), kí ngày 26-8-2004.
Điều đáng nói, cho dù có tham lam, tráo trở đến mấy thì với thủ đoạn man trá khá sơ đẳng của ông Thuận cũng sẽ bị phát giác, ngăn chặn kịp thời nếu những công chứng viên tại Phòng Công chứng số 1 không “mù mờ”! Bởi lẽ, văn bản từ chối di sản thừa kế do bà Hòa lập ngày 26-8-2004, tức sau khi ông Khương chết 30 tháng. Trong khi, theo quy định tại Điều 645, Bộ luật Dân sự năm 1995 thì thời hạn khước từ quyền hưởng di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Vậy, nguyên nhân nào đã khiến công chứng viên Đồng Thị Hạnh (hiện giữ chức Phó Văn phòng HĐND tỉnh Tiền Giang) mạnh tay kí liều đến thế? Sau bà Hạnh, đến lượt công chứng viên Trình Thị Minh Hiền (hiện là Trưởng phòng Công chứng huyện Cai Lậy) cũng bị “lóa” nên nhanh chóng chấp nhận cái sai của đồng nghiệp (văn bản từ chối di sản thừa kế trái luật) cũng như sự kê khai gian dối của ông Trần Văn Thuận!
Rõ ràng, hành vi tráo trở (không thực hiện đúng cam kết sau khi đã nhận đủ phần giá trị trong khối di sản thừa kế) và gian dối (giấu nhẹm bản di chúc của cha đẻ, chỉ cho mình có 20% di sản) để khai nhận toàn bộ di sản của ông Thuận là hoàn toàn cố ý, có ý thức, bất chấp luân thường đạo lí. Sự coi thường kỉ cương phép nước ấy, không hiểu sao, lại dễ dàng “lọt” cửa Phòng Công chứng số 1 đến hai lần?
8. Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh có bài Thông tư sai, liên bộ LĐ-TB&XH, Tài chính bị “thổi còi”. Bài báo phản ánh: Cục Kiểm tra văn bản (Bộ Tư pháp) vừa có văn bản đề nghị hai bộ LĐ-TB&XH, Tài chính tự kiểm tra, điều chỉnh lại Thông tư liên tịch số 27 (ban hành đầu năm 2012) vì có nội dung trái luật.
Thông tư nói trên quy định về quản lý, sử dụng kinh phí trong việc đưa người vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng. Theo đó, người tự nguyện đi cai nghiện tại các trung tâm cai nghiện của chính quyền phải đóng góp toàn bộ kinh phí theo mức do UBND cấp tỉnh quyết định.
Nội dung trái luật được chỉ ra ở đây là thẩm quyền quyết định phí, lệ phí. Luật Tổ chức HĐND, UBND quy định: “HĐND tỉnh quyết định các khoản thu phí, lệ phí và các khoản đóng góp của nhân dân...”. Nghị định 135 của Chính phủ ban hành năm 2004 (quy định việc áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng với người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh) cũng nêu rõ: “Căn cứ tình hình thực tế địa phương, HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định mức thu cụ thể chi phí chữa trị, cai nghiện, phục hồi theo đề nghị của UBND cùng cấp”.
Ngoài ra, phần hướng dẫn của Thông tư 27 giao chủ tịch UBND cấp tỉnh quy định về chi phí hỗ trợ cán bộ theo dõi, quản lý đối tượng cai nghiện tại gia đình và cộng đồng cũng bị coi là không đúng thẩm quyền. Cơ quan kiểm tra văn bản cho rằng nội dung này phải được quy định bởi văn bản quy phạm pháp luật, trong khi chủ tịch UBND cấp tỉnh không có thẩm quyền ban hành loại văn bản này.