Vướng mắc, bất cập, kiến nghị hoàn thiện PL về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục TTDS

06/11/2019
 
Luật Đất đai năm 2013, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015 được ban hành đã tạo hành lang pháp lý để đảm bảo quyền tự do định đoạt, quyền khởi kiện cho các được sự trong việc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đất đai; tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai có hiệu quả hơn, khắc phục những nhược điểm về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai được quy định trong Luật Đất đai năm 2003. Trong đó, giải quyết tranh chấp đất đai theo trình tự tố tụng dân sự là việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án được thực hiện theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền. Đối với tranh chấp về tài sản gắn liền với đất đai và tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 hoặc không có một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 nhưng có yêu cầu Tòa án giải quyết thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Đây là phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến và lâu đời nhất. Hình thức giải quyết này thông qua cơ quan quyền lực công có chức năng xét xử để đưa ra một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bắt buộc đối với các bên tham gia tranh chấp, là cơ sở để các cơ quan hành chính nhà nước về đất đai có những điều chỉnh phù hợp theo nội dung quyết định, bản án đã nêu. Ngoài ra, theo tổ chức bộ máy nhà nước thì Tòa án được tổ chức và có cơ chế hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nên các phán quyết của Tòa án đảm bảo sự công bằng, khách quan.
Có thể hiểu, giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án là việc Tòa án áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể nảy sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai. Tuy nhiên, không phải tranh chấp đất đai nào cũng có thể được giải quyết thông qua Tòa án. Pháp luật có quy định cụ thể về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp đất đai, theo đó, Tòa án chỉ được giải quyết những tranh chấp nào thuộc thẩm quyền của mình được pháp luật quy định. Cụ thể, pháp luật đất đai căn cứ vào việc người sử dụng đất có hay không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có hay không có giấy tờ hợp lệ về đất đai và căn cứ theo sự tự do lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp của đương sự để phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.
Bài viết đề cập đến thực trạng các quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo thủ tục tố tụng dân sự, từ đó, đưa ra một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tháo gỡ những vướng mắc, nâng cao hiệu quả  giải quyết các tranh chấp đất đai ở Việt Nam trong thời gian tới.
1. Quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự
Giải quyết tranh chấp đất đai theo trình tự tố tụng dân sự là việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án được thực hiện theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đây là phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến và lâu đời nhất. Hình thức giải quyết này thông qua cơ quan quyền lực công có chức năng xét xử để đưa ra một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bắt buộc đối với các bên tham gia tranh chấp, là cơ sở để các cơ quan hành chính nhà nước về đất đai có những điều chỉnh phù hợp theo nội dung quyết định, bản án đã nêu. Ngoài ra, theo tổ chức bộ máy nhà nước thì Tòa án được tổ chức và có cơ chế hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nên các phán quyết của Tòa án đảm bảo sự công bằng, khách quan.
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự thường thuộc các quan hệ tranh chấp sau: Tranh chấp đất đai mà trên đất không có tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất; Tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất với các nội dung chủ yếu như: Xác định người có quyền sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất; chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; tranh chấp liên quan đến các giao dịch về đất, tài sản gắn liền với đất; thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.
Cũng theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, đối với loại tranh chấp xác định người có quyền sử dụng đất hoặc tranh chấp về việc xác định người có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ được quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 hay chưa, nhưng đương sự khởi kiện đến Tòa án thì Tòa án đều có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Đối với tranh chấp về quyền sở hữu nhà không liên quan đến chính sách cải tạo nhà ở thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bởi đây là dạng cụ thể của tranh chấp về quyền sở hữu tài sản. Về nguyên tắc, nếu tài sản tồn tại trên đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy tờ được quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết cả tranh chấp về nhà ở và tranh chấp về quyền sử dụng đất. Trong trường hợp nhà ở tồn tại trên đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy tờ được quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 thì tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất do Tòa án nhân dân giải quyết khi các tài sản tranh chấp gắn liền với đất có thể là một trong các tài sản được quy định cụ thể tại Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCHC ngày 03/01/2002  hướng dẫn thẩm quyền của Tòa án nhân dân giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, đó là: Nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở, các công trình xây dựng trên đất để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh (nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi) hoặc trên đất có những tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây ăn quả hay cây lâu năm khác gắn liền với việc sử dụng đất.
Trong trường hợp đương sự đã có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 1993 thì Tòa án sẽ giải quyết cả tranh chấp về tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất; Trong trường hợp đương sự không có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cho biết rõ là việc sử dụng đất đó không vi phạm quy hoạch và có thể được xem xét để giao quyền sử dụng đất thì Tòa án giải quyết tranh chấp về tài sản, đồng thời, xác định ranh giới, tạm giao quyền sử dụng đất đó cho đương sự để Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền tiến hành các thủ tục giao quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự theo quy định của pháp luật về đất đai; Trong trường hợp Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền có văn bản cho biết rõ việc sử dụng đất đó là không hợp pháp, tài sản không được phép tồn tại trên đất đó thì Tòa án chỉ giải quyết tranh chấp về tài sản.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì khi giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất, nếu đương sự có yêu cầu bằng văn bản hoặc trình bày yêu cầu tại Tòa án trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự yêu cầu hủy quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thì Tòa án xem xét hủy quyết định đó, nếu quyết định rõ ràng trái pháp luật, xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết.
Việc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất theo trình tự tố tụng dân sự được quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, theo đó, Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự đối với tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai, cụ thể: Cá nhân , cơ quan , tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khởi kiện vụ án tại Tòa án (theo điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết. Do đó, tranh chấp đất sẽ do Tòa án nơi có đất có thẩm quyền giải quyết. Nếu đất đai có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các diện tích đất giải quyết). Người khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ đến Tòa án có thẩm quyền, thực hiện việc tạm ứng án phí và hoàn chỉnh hồ sơ, đơn khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án. Khi Tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án, sẽ tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Nếu hòa giải thành thì Tòa án sẽ lập biên bản hòa giải thành, hết 07 ngày mà các bên đương sự không thay đổi ý kiến thì tranh chấp chính thức kết thúc. Nếu hòa giải không thành thì Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ngay trong quá trình xét xử, các đương sự vẫn có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Nếu không đồng ý thì các bên vẫn có quyền kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án bị kháng cáo, kháng nghị (Điều 17 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Theo đó, xét xử phúc thẩm là việc Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị (Điều 270 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Ngoài ra, bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Phần thứ năm, thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật). Như vậy, giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án cũng như mọi hoạt động giải quyết tranh chấp khác của Tòa án đối với một vụ án có thể có thủ tục xét xử sơ thẩm, thủ tục xét xử phúc thẩm, thậm chí là giám đốc thẩm và tái thẩm.
2. Một số vướng mắc, bất cập của quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự
Hệ thống pháp luật về lĩnh vực đất đai ở nước ta hiện nay chưa thực sự thống nhất, đồng bộ giữa luật, nghị định, pháp lệnh, trong khi đó, số lượng các vụ tranh chấp liên quan đến đất đai mà Tòa án phải thụ lý, giải quyết ngày càng tăng với tính chất ngày càng phức tạp. Ngay trong chính những quy định được áp dụng trực tiếp để giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án như Luật Đất đai năm 2013, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn còn tồn tại một số vướng mắc. Cụ thể:
Thứ nhất, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khi xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ thì ưu tiên việc xác định thẩm quyền theo nơi cư trú của bị đơn (khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thẩm quyền thì khi có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp trong cùng vụ án (mỗi quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định thẩm quyền theo từng vụ việc khác nhau) thì thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án được xác định theo quan hệ pháp luật tranh chấp chính. Ví dụ, nếu đó là quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân gia đình thì dù vợ chồng có tranh chấp tài sản chung là quyền sử dụng đất thì thẩm quyền của Tòa án vẫn được xác định theo nơi cư trú của bị đơn mà không phải là nơi có quyền sử dụng đất (bất động sản). Trong khi đó, Luật Đất đai năm 2013 quy định tranh chấp đất đai bao gồm mọi tranh chấp về quyền sử dụng đất, do vậy, khi xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án phải được xác định theo nơi có quyền sử dụng đất (bất động sản) mà không phụ huộc quan hệ tranh chấp chính là quan hệ tranh chấp nào. Tức là, thẩm quyền theo lãnh thổ đối với nơi có bất động sản được ưu tiên áp dụng trước.
Thứ hai, theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013 thì hòa giải ở cơ sở là một thủ tục bắt buộc trong giải quyết tranh chấp đất đai, kết quả hòa giải phải được lập thành biên bản, có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc không thành của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, hiện nay, khi Ủy ban nhân dân triệu tập các bên để hòa giải trong nhiều trường hợp phía bị đơn không đến (mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ), do vậy, phát sinh trường hợp: Khi bị đơn không đến thì Ủy ban nhân dân không thể tiến hành hòa giải được, trong biên bản hòa giải cũng không thể có chữ ký của bị đơn. Nếu Ủy ban nhân dân có lập biên bản không hòa giải vì bị đơn không đến thì biên bản này có được coi là biên bản hòa giải không thành không và Tòa án có được căn cứ vào đó để thụ lý giải quyết các tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự không? Đây là một vấn đề vướng mắc trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp đất đai tại Tòa án, cần phải được hướng dẫn một cách cụ thể trong thời gian tới để việc áp dụng pháp luật đất đai được thực hiện một cách thống nhất. Ngoài ra, kết quả hòa giải thành tại Ủy ban nhân dân không có giá trị bắt buộc thực hiện đối với các bên đương sự nên nếu sau khi Ủy ban nhân dân cấp xã hòa giải thành xong mà các bên không thực hiện thì phải xử lý như thế nào? Vì trong thực tế, có nhiều trường hợp trong thời gian chờ thực hiện kết quả hòa giải thành thì hết thời hiệu khởi kiện.
Thứ ba, trong thực tiễn, quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xác định thẩm quyền của Tòa án đối với các tranh chấp thừa kế nhà đất hoặc quyền sử dụng đất chưa rõ ràng dẫn đến tình trạng vẫn còn có những ý kiến khác nhau trong quá trình áp dụng như: (i) Tranh chấp thừa kế nhà đất hoặc quyền sử dụng đất không phải là tranh chấp về bất động sản nên trong trường hợp này, Tòa án có thẩm quyền phải là Tòa án nơi bị đơn giải quyết; (ii) Tranh chấp thừa kế thì di sản có thể bao gồm cả động sản, bất động sản nên không thể áp dụng nguyên tắc xác định thẩm quyền của Tòa án theo nơi có bất động sản.
Thứ tư, theo quy định tại khoản 3 và khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án có thẩm quyền và giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự  (khoản 3 Điều 26) và giải quyết các tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật đất đai (khoản 9 Điều 26). Tuy nhiên, theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 thì không còn phân biệt thẩm quyền giải quyết của Tòa án giữa tranh chấp về hợp đồng dân sự và tranh chấp về các giao dịch có đối tượng là quyền sử dụng đất. Chính vì vậy, khi thụ lý giải quyết những vụ án là các giao dịch có đối tượng là quyền sử dụng đất thì Tòa án không rõ áp dụng khoản nào của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để thụ lý, giải quyết.
Thứ năm, việc phối hợp giữa Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án, các sở, ban , ngành liên quan trong việc xác minh thu thập, đánh giá chứng cứ, định giá quyền sử dụng đất... chưa thực sự chặt chẽ. Theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án nhưng trên thực tế, việc lấy thông tin trong kho lưu trữ của các cơ quan nhà nước về các tài liệu có thể chứng minh cho việc khởi kiện của mình là điều không thể, ngay cả việc thẩm phán trực tiếp đi thu thập thì không phải lúc nào cũng gặp thuận lợi. Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho việc giải quyết vụ án bị kéo dài, phát sinh những tình tiết mới tại giai đoạn phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm, tái thẩm.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai bằng thủ tục tố tụng dân sự
Để góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất theo thủ tục tố tụng dân sự, cần sửa đổi các quy định của pháp luật đất đai theo hướng:
Thứ nhất, mặc dù Luật Đất đai năm 2013 đã mở rộng hơn thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp đất đai nhưng theo tác giả, cần nghiên cứu để xác định thời điểm phù hợp chuyển giao tất cả các tranh chấp đất đai cho Tòa án thụ lý giải quyết, bởi lẽ, chuyển giao thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai cho Tòa án sẽ giảm được áp lực cho các cơ quan nhà nước; bên cạnh đó, các tranh chấp đất đai được Tòa án giải quyết sẽ đảm bảo sự khách quan, công bằng, chính xác hơn do cán bộ làm công tác giải quyết tranh chấp đất đai tại các cơ quan nhà nước hiện nay thường là kiêm nhiệm, trình độ hiểu biết, áp dụng pháp luật trên thực tiễn chưa cao.
Thứ hai, Luật Đất đai năm 2013 ghi nhận đất đai thuộc chủ sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Trong đó, Nhà nước phân cấp thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất quá lớn cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện, song pháp luật đất đai lại chưa xác lập được cơ chế phù hợp để kiểm soát, giám sát quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của các cơ quan nhà nước. Điều này dẫn đến tình trạng có sự lạm quyền trong việc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất; thậm chí trong nhiều trường hợp có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực gây bất bình trong nhân dân. Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung các quy định về cơ chế hữu hiệu để giám sát các cơ quan nhà nước thực hiện vai trò chủ sở hữu đất đai; tăng cường hoạt động xem xét, đánh giá việc phân cấp về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất giữa trung ương và địa phương nhằm khắc phục sự lạm quyền trong giao đất, cho thuê đất.
Thứ ba, việc xem xét, thẩm định tại chỗ nhà đất trong thực tế giải quyết những vụ việc tranh chấp đất đai là rất cần thiết bởi tranh chấp đất đai là một loại tranh chấp đặc thù, đối tượng tranh chấp là loại tài sản đặc biệt, có giá trị và trải qua nhiều biến động trong quá trình nhà nước thực hiện các chính sách cải tạo đất đai. Có những tranh chấp mà các bên tranh chấp không trực tiếp quản lý, sử dụng đất mà do một người thứ ba ngay tình đang sử dụng, hay có những tranh chấp mà nếu chỉ áp dụng các quy định pháp luật để giải quyết sẽ dẫn đến bản án không phù hợp với thực tiễn và không thể thi hành được. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự lại quy định Tòa án chỉ được tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản khi đương sự có yêu cầu. Nếu đương sự không có yêu cầu thì Tòa án không thể tự mình tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản được. Do đó, để đảm bảo tính khách quan và hiệu lực thi hành của bản án phù hợp với thực tế thì cần quy định về quyền của Tòa án trong việc tự mình tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản là nhà đất đang tranh chấp khi thấy cần thiết.
Thứ , trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã đã phát sinh một số mâu thuẫn, vướng mắc trên thực tế, vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể trong từng trường hợp, theo hướng:(i) Bổ sung quy định đối với trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp tổ chức buổi hòa giải nhưng một trong các bên hoặc hai bên đương sự vắng mặt không có lý do chính đáng thì Ủy ban nhân dân cấp xã vẫn tiến hành hòa giải vắng mặt, lập biên bản hòa giải mà không có chữ ký của bên vắng mặt; đồng thời, tống đạt văn bản đến bên vắng mặt trong buổi hòa giải. Biên bản hòa giải là căn cứ đề các bên đương sự tiến hành các thủ tục tiếp theo như khởi kiện tranh chấp đất đai tại Tòa án hoặc gửi đơn yêu cầu đến Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giải quyết; (ii) Đối với trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tranh chấp tổ chức hòa giải thành nhưng sau đó một trong các bên lại thay đổi ý kiến không chấp nhận kết quả hòa giải thành thì không cần tiếp tục các thủ tục hòa giải vì một bên tranh chấp đã không có thiện chí chấp hành sự thỏa thuận của các bên, nếu tiếp tục hòa giải chỉ làm kéo dài quá trình giải quyết vụ việc. Trong trường hợp này, các bên có thể khởi kiện ra Tòa án hoặc gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai đến Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền để được giải quyết.
Thứ năm, thực tế cho thấy, việc ủy thác tư pháp trong các tranh chấp đất đai mà đương sự đang sinh sống, học tập, công tác hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài ủy thác tư pháp cho cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài hoặc Tòa án nước ngoài thu thập tài liệu, chứng cứ còn chưa thực sự hiệu quả, có nhiều vụ ủy thác không nhận được kết quả ủy thác hoặc có nhận được nhưng rất chậm gây ra trở ngại lớn cho việc giải quyết vụ án. Vì vậy, cần thiết phải có một văn bản pháp luật quy định cụ thể về phạm vi, trình tự, thủ tục của các cơ quan trong ủy thác tư pháp để việc ủy thác tư pháp đạt hiệu quả cao hơn.
Thứ sáu, qua thực tiễn xét xử cho thấy, việc phối hợp giữa Tòa án với các cơ quan hành chính thường chưa thực sự hiệu quả. Các cơ quan hành chính nhà nước và cơ quan chuyên môn thường là nơi nắm giữ những tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc tranh chấp nhưng nhiều khi cán bộ các cơ quan này thiếu sự hợp tác trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, thậm chí có trường hợp Tòa án yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ còn gặp trở ngại. Vì vậy, cần có một cơ chế xử lý thích hợp, có hiệu quả đối với những trường hợp các cá nhân, cơ quan, tổ chức đang nắm giữ tài liệu, chứng cứ của vụ án mà thiếu sự hợp tác hoặc không cung cấp tài liệu, chứng cứ của vụ án để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời, chính xác và đúng pháp luật.
Thứ bảy, cần tăng cường bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ thẩm phán, cán bộ Tòa án nhân dân nhằm giúp cho các thẩm phán và cán bộ Tòa án nắm được các kỹ năng tiến hành hòa giải, nhận thức được tính chất đặc thù trong quá trình giải quyết các tranh chấp về đất đai để từ đó nắm vững được các nguyên tắc chỉ đạo, áp dụng đúng các quy định của pháp luật về đất đai, cũng như những quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhằm giải quyết các vụ việc có hiệu quả và chất lượng cao.
Minh Tuấn
Tài liệu tham khảo
1. Trần Anh Tuấn (2009), Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số tháng 7.
2. Châu Huế (2003), Giải quyết tranh chấp đất đai theo Luật Đất đai 2003, Luận văn Thạc sỹ luật học, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội.
3. Lý Thị Ngọc Hiệp (2006), Cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất tại tòa án nhân dân, Luận văn Thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh.
4. Nguyễn Văn Luật, Tưởng Duy Lượng (2011), Cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân, Đề tài khoa học cấp bộ.
5. Nguyễn Văn Luật (2013),Tranh chấp đất đai và thẩm quyền giải quyết của Tòa án, Đề tài khoa học cấp bộ.
6. Mai Thị Tú Oanh (2013), Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án ở nước ta, Luận án Tiến sỹ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội.