Thực hiện Quy chế ủy quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý một số mặt công tác tổ chức, cán bộ của cơ quan thi hành án dân sự theo Quyết định số 1148/2005/QĐ-BTP ngày 18/5/2005 được sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 01/2007/QĐ-BTP ngày 16/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, trong 5 năm qua, tình hình công tác củng cố kiện toàn tổ chức, bộ máy cơ quan THADS của tỉnh An Giang đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần nâng cao chất lựong và hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh.
Tính đến hết tháng 12/2005 các cơ quan thi hành án trong tỉnh chỉ có 89 biên chế, gồm: 6 Chấp hành viên tỉnh, 33 Chấp hành viên cấp huyện (trong đó có 5 CHV không đủ tiêu chuẩn bổ nhiệm lại) và 50 cán bộ, công chức nghiệp vụ khác. Đội ngũ Chấp hành viên, cán bộ cơ bản đủ tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nhưng năng lực công tác, khả năng hoàn thành nhiệm vụ vẫn chưa đồng đều, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Về tổ chức, bộ máy ở cấp huyện: do số lựơng CHV, cán bộ còn thiếu rất nhiều so với chỉ tiêu do Bộ phân bổ, bên cạnh đó không ít cán bộ có đủ tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn nhưng năng lực công tác còn hạn chế. Vì vậy, cơ cấu tổ chức, bộ máy của các cơ quan THADS cấp huyện có nhiều khó khăn, bất cập - toàn tỉnh có 02/11 đơn vị chỉ có 01 CHV (Tri Tôn và Tịnh Biên); hầu hết các đơn vị không có Phó trưởng THADS.
Căn cứ theo chỉ tiêu phân bổ biên chế cho cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh An Giang hàng năm của Bộ Tư pháp, việc kiện toàn tổ chức của các cơ quan thi hành án dân sự địa phương; xây dựng kế hoạch chỉ tiêu biên chế, số lượng Chấp hành viên cho các cơ quan thi hành án dân sự huyện, thị, thành phố được Sở Tư pháp thường xuyên kiểm tra, đôn đốc thực hiện. Số lựợng biên chế của các cơ quan thi hành án cấp huyện hàng năm được điều chỉnh, bổ sung phù hợp với tình hình và yêu cầu thực tế, đảm bảo thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chuyên môn của ngành. Đến đầu năm 2007 đã khắc phục được tình trạng cơ quan thi hành án cấp huyện chỉ có 01 CHV theo chỉ đạo của Bộ. Hiện nay, mỗi cơ quan thi hành án cấp huyện có từ 2 đến 5 Chấp hành viên. Chất lựợng Chấp hành viên, công chức chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan thi hành án ngày một nâng lên rõ rệt. Tính đến nay toàn tỉnh có 142 biên chế, trong đó có 09 CHV tỉnh (bổ nhiệm mới 03) và 40 Chấp hành viên cấp huyện (bổ nhiệm mới 12), 108/142 biên chế có trình độ Đại học.
Từ năm 2005 đến nay, Hội đồng tuyển dụng công chức thi hành án tỉnh đã tuyển dụng được 64 công chức thi hành án, trong đó có 45 công chức loại A và 19 công chức loại B,C ( năm 2005 tuyển 13 công chức; năm 2006 tuyển 31; năm 2007 tuyển 05 và 2008 là 16 công chức) để phân bổ cho các cơ quan Thi hành án dân sự trong tỉnh. Năm 2009, dự kiến tuyển dụng đủ số biên chế còn thiếu là 07 biên chế (dự kiến thực hiện vào tháng 5/2009); Sở cũng đã tiếp nhận 06 chuyên viên từ cơ quan khác chuyển đến; Quyết định điều động, luân chuyển 16 lượt cán bộ Chấp hành viên; Bổ nhiệm 9 Phó trưởng THADS cấp huyện; Cử 32 cán bộ dự lớp nguồn Chấp hành viên; Cử 128 công chức tham dự các lớp tập huấn nghiệp vụ khác, đã tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng Chấp hành viên, kế toán và cán bộ thi hành án ở địa phương nâng cao kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn.
Công tác thi đua khen thưởng được thực hiện khá kịp thời theo thẩm quyền, từ đó động viên, khích lệ cán bộ công chức ngành thi hành án hăng hái thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuyên môn. Trong 5 năm qua, đã khen thưởng cho 8 tập thể; công nhận danh hiệu CSTĐCS cho 31 đ/c; danh hiệu LĐTT cho 51 đ/c.
Nhìn chung, việc thực hiện Quy chế ủy quyền của Bộ trưởng đã tạo điều kiện cho địa phương nắm bắt, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc kịp thời công tác kiện toàn tổ chức cơ quan thi hành án, góp phần tạo điều kiện cho Giám đốc Sở Tư pháp thực hiện tốt chức năng tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phưong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này. Căn cứ vào những nội dung ủy quyền được liệt kê khá cụ thể, Giám đốc Sở và Trưởng Thi hành án dân sự tỉnh có sự phối hợp chặt chẽ, triển khai thực hiện khá đồng bộ, hiệu quả những nội dung về công tác tổ chức, cán bộ do Bộ trưởng ủy quyền. Từ đó, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ kiện toàn, nâng chất tổ chức, bộ máy cơ quan thi hành án dân sự ở địa phương (trong 5 năm đã nâng số lượng biên chế của các cơ quan THADS địa phương từ dưới 100 cán bộ, công chức đến nay là 142 cán bộ, công chức). Góp phần đẩy nhanh tiến độ giải quyết việc thi hành án, khắc phục một bước tình trạng án tồn đọng kéo dài những năm trước. Bên cạnh đó quá trình thực hiện các nhiệm vụ được ủy quyền vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập như:
- Công tác quản lý cán bộ, công chức thi hành án theo cơ chế ủy quyền trong thời gian qua còn bất cập, phân tán thiếu tập trung, thống nhất, nội dung còn nhiều vấn đề chồng chéo, nhất là về thẩm quyền quản lý. Hầu hết nội dung ủy quyền cho Giám đốc Sở đều thực hiện trên cơ sở “theo đề nghị của Trưởng THADS”. Điều này dẫn đến nhiều đơn vị, địa phương hiểu, xác định chưa đúng chức năng, thẩm quyền của Giám đốc Sở và Trưởng Thi hành án, từ đó dẫn đến sự thiếu thống nhất trong quá trình thực hiện các nội dung được Bộ trưởng ủy quyền.
- Việc ủy quyền của Bộ trưởng một số lĩnh vực về tổ chức cán bộ thi hành án là phù hợp với tình hình thực tiễn vì Bộ khó có thể quản lý toàn diện, chặt chẽ đối với tất cả các cơ quan THADS ở các địa phương, nhất là ở cấp huyện, nên Quy chế ủy quyền đã khắc phục được một phần khó khăn này. Tuy nhiên, những nội dung quản lý về tổ chức, cán bộ thi hành án mà Giám đốc Sở được uỷ quyền, nhìn chung còn phiến diện, cơ chế chồng chéo, nên hiệu quả và hiệu lực còn hạn chế. Nếu nội dung và thẩm quyền được đầy đủ và mạnh mẽ hơn, chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cao hơn trong quá trình tổ chức thực hiện (Ví dụ: về nội dung, thủ tục, trình tự thực hiện ủy quyền về việc tuyển dụng công chức THADS, bổ nhiệm Phó trưởng THADS cấp huyện, điều động, luân chuyển Chấp hành viên hay trong hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với THADS cấp huyện).
Trần Hải Quân