Thừa Thiên Huế: Phát huy vai trò của cơ quan và cán bộ tư pháp trong thực hiện đề án 4-212

24/04/2009
Ngày 09/4/2009, Ban Điều hành Đề án“Phát huy vai trò của cơ quan và cán bộ Tư pháp trong phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn” thuộc Chương trình hành động quốc gia về phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn của Chính phủ tại tỉnh Thừa Thiên Huế (sau đây gọi tắt là Đề án 4-212) đã tiến hành sơ kết việc thực hiện các hoạt động của giai đoạn 1 và triển khai giai đoạn 2 Đề án từ nay đến hết năm 2010.

Giai đoạn 1 của Đề án 4-212 được bắt đầu thực hiện từ ngày 18/01/2007 theo Kế hoạch số 08/KH-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh, đến hết năm 2008 đã thực hiện điểm tại 50 xã, phường, thị trấn(sau đây gọi tắt là cấp xã ), để thực hiện tốt Đề án này, vai trò của cán bộ Tư pháp cấp xã là rất quan trọng. Đến nay, toàn tỉnh có 162 cán bộ thuộc 152 xã, phường, thị trấn, trong đó có 99 đảng viên, có 119 nam, 43 nữ; trong đó 135 người là dân tộc Kinh và 27 người thuộc các dân tộc khác; có 77 người dưới 35 tuổi; 71 người từ 35 tuổi đến 50 tuổi; 14 người trên 50 tuổi; về trình độ văn hoá: 155 người có trình độ trung học phổ thông và 7 người có trình độ trung học cơ sở; về trình độ chuyên môn: có 34 người chưa qua đào tạo; 1 người trình độ sơ cấp; 103 người trình độ trung cấp; 24 người đại học; về lý luận chính trị: chưa đào tạo: 98 người; sơ cấp: 29 người; trung cấp 35 người; quản lý nhà nước: 145 người chưa qua đào tạo; có 2 người đã qua bồi dưỡng; 14 người trình độ trung cấp và 1 người trình độ đại học; ngoại ngữ: 134 người chưa qua đào tạo; 14 người trình độ A; 13 người trình độ B và 1 người trình độ C; tin học: 85 người chưa đào tạo; 66 người trình độ A; 11 người trình độ B.

So với cán bộ chủ chốt cấp xã trong toàn tỉnh có 956, trong đó có 51 nữ, chiếm 5,33%; dân tộc thiểu số 153 người, chiếm 16%. Về trình độ chuyên môn, có 214 người có trình độ cao đẳng trở lên, chiếm 22,38%; trung cấp có 225 người, chiếm 23,53%; trình độ lý luận chính trị cao cấp, cử nhân có 72 người, chiếm 7,53%, trung cấp có 733 người, chiếm 76,67%.  

Cho thấy đội ngũ cán bộ tư pháp cấp xã theo thống kê như trên đã phần nào đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao trong giải quyết công việc nói chung và công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nói riêng. Với vai trò là Tổ phó của Tổ cán bộ nòng cốt, cán bộ tư pháp đã phát huy vai trò, trách nhiệm trong việc thực hiện Đề án 4 đạt hiệu quả cao tại một số xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, trình độ chuyên môn của đội ngũ này chưa đồng đều, công tác tư pháp được phân cấp về các xã, phường, thị trấn ngày càng gia tăng nên việc giải quyết công việc có lúc, có nơi chưa được kịp thời.

Qua sơ kết giai đoạn 1 thực hiện Đề án 4-212 tại tỉnh Thừa Thiên Huế có một số kết quả đáng ghi nhận sau:

Thứ nhất: Thành lập Tổ cán bộ nòng cốt, tổ chức Hội nghị tập huấn trang bị một số kiến thức cơ bản về pháp luật cho Tổ cán bộ nòng cốt.

Trong hai năm 2007, 2008 Ban Điều hành Đề án 4-212 đã hướng dẫn Uỷ ban nhân dân xã được chọn điểm thực hiện triển khai Đề án số 4, đến nay, 50 xã chỉ đạo điểm có 301 cán bộ Tổ nòng cốt với thành phần gồm: 20 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và 30 Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân làm Tổ trưởng, 47 cán bộ Tư pháp làm Tổ phó và 204 thành viên là cán bộ của các ban, ngành, đoàn thể cấp xã như: Công an, Uỷ ban MTTQVN, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Địa chính, Văn hoá thông tin, Phụ nữ, Cựu Chiến binh.

Để hiểu rõ thực trạng hiểu biết pháp luật, năng lực tuyên truyền, phổ biến pháp luật và nhu cầu tìm hiểu pháp luật của cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn, BĐH đã tiến hành khảo sát tại một số đơn vị chọn điểm với 450 phiếu khảo sát. Trên cơ sở kết quả khảo sát đã tổ chức 08 Hội nghị tập huấn gồm các chuyên đề: Tuyên truyền miệng về pháp luật; Công an xã với công tác tuyên truyền pháp luật; Kỹ năng hoà giải cơ sở; một số quy định liên quan đến cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại tố cáo; Luật bình đẳng giới; Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm; kinh nghiệm về tổ chức một số hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay cho hơn 1.140 người là cán bộ Tổ cán bộ nòng cốt, 100% cán bộ Tư pháp trong toàn tỉnh, tuyên truyền viên, hoà giải viên, thành viên của Câu lạc bộ “Tuổi trẻ phòng, chống tội phạm”, Câu lạc bộ “Trợ giúp pháp lý” và các già làng, trưởng bản, trưởng thôn, cụm trưởng thuộc 09 huyện, thành phố Huế. Hội nghị được các báo cáo viên là những chuyên gia về pháp luật trong và ngoài ngành Tư pháp trực tiếp giới thiệu. Qua các đợt tập huấn, các thành viên của Tổ cán bộ nòng cốt, tuyên truyền viên, hoà giải viên... đã được trang bị một số kiến thức cơ bản về pháp luật cũng như kỹ năng tuyên truyền, phổ biến pháp luật phục vụ cho công tác triển khai Đề án tại địa phương.

Thứ hai: Các hoạt động bổ trợ để thực hiện tốt Đề án.

 Sở Tư pháp - cơ quan chủ trì Đề án 4-212 đã cấp phát 87 đầu sách/Tổ cán bộ nòng cốt với 5.565 quyển là các văn bản pháp luật; cấp phát 150 băng cassette, 1.484 đĩa VCD với nội dung đề cập đến những câu chuyện pháp luật gần gũi, liên quan đến cuộc sống thường ngày của người dân như: Câu chuyện pháp luật về đất đai, Câu chuyện về quyền sở hữu, Hỏi đáp về Luật Bảo hiểm xã hội, Câu chuyện về bồi thường thiệt hại và câu chuyện pháp luật về lao động, pháp luật về thừa kế; cung cấp 13.500 cuốn sách “Bạn và những điều cần biết về pháp luật” từ tập XIV đến tập XVIII; 3.500 quyển “Bản tin Tư pháp” đến tất cả các xã, phường, thị trấn. Biên tập, in ấn phát hành 9.600 cuốn tài liệu “Pháp luật với Công dân”, nội dung pháp luật được chọn để giải đáp trong cuốn tài liệu này bao gồm những vấn đề thiết yếu mà thực tiễn đặt ra, được nhiều người quan tâm, các tác giả đã dựa trên các quy định pháp luật hiện hành để trả lời các câu hỏi một cách ngắn gọn, dễ hiểu giúp bạn đọc và cán bộ Tư pháp, hoà giải viên, tuyên truyền viên cũng như người dân tìm hiểu, nâng cao kiến thức pháp luật.  

Thường xuyên đôn đốc, hướng dẫn các đơn vị được chọn điểm thực hiện các nội dung cụ thể của Đề án như: định kỳ tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân tại Uỷ ban nhân dân xã; tổ chức tư vấn pháp luật cho người dân; thực hiện lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật qua các buổi họp dân, các cuộc tư vấn pháp luật, các buổi sinh hoạt Câu lạc bộ “Tuổi trẻ phòng, chống tội phạm”, Câu lạc bộ “Trợ giúp pháp lý”, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên; hoà giải, phát tờ rơi, tờ gấp, tài liệu pháp luật; công tác vận động nhân dân chấp hành pháp luật, giải thích pháp luật tại từng gia đình, đặc biệt là các gia đình có người vi phạm pháp luật; việc khai thác tủ sách pháp luật; tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh;...

Trường chính trị Nguyễn Chí Thanh tỉnh thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị đã tổ chức 38 lớp đào tạo, bồi dưỡng chính trị và nghiệp vụ cho 2.976 đối tượng là cán bộ thuộc các cơ quan, ban, ngành trên địa bàn tỉnh, trong đó phối hợp với Sở Tư pháp mở 02 lớp bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ tư pháp cho 137 cán bộ tư pháp thuộc các xã, phường, thị trấn. Qua các lớp bồi dưỡng chính trị, tập huấn nghiệp vụ, năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ ở xã, phường, thị trấn nói chung và cán bộ tư pháp xã nói riêng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu thực tế về chuyên môn trong việc tham mưu giải quyết các công việc tại địa phương theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của nhà nước.

Toà án nhân dân tỉnh đã tiến hành mở 26 phiên toà xét xử lưu động, Toà án nhân dân các huyện và thành phố Huế mở 148 phiên. Những vụ án được lựa chọn để xét xử lưu động là những vụ án có tính chất nổi cộm, điển hình và có tính răn đe, giáo dục cao, thuộc các lĩnh vực: giết người; trộm cắp tài sản; cướp tài sản; cố ý gây thương tích; mua bán trẻ em và vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ.

Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh đã tăng cường hoạt động tuyên truyền pháp luật thi hành án cho các đối tượng thi hành án. Hằng năm, thông qua hoạt động thi hành án dân sự, giải quyết khiếu nại tố cáo đã lồng ghép tuyên truyền pháp luật về thi hành án dân sự và các quy định pháp luật có liên quan cho trên 10.000 lượt người; công khai niêm yết các trình tự thủ tục thi hành án dân sự tại một số xã, phường, thị trấn có lượng việc thi hành án dân sự nhiều. Qua đó, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân nói chung, ý thức tự nguyện chấp hành các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật của đối tượng phải thi hành, nâng cao tỷ lệ các vụ việc được thi hành án, giảm thiểu số án tồn đọng.

Thứ ba: Một số kết quả thực hiện Đề án 4 tại các xã, phường, thị trấn điểm.

 Tổ cán bộ nòng cốt tại 50 đơn vị điểm đã tổ chức được 307 cuộc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật với 81.167 lượt người tham dự, trong đó 155 cuộc tổ chức tại Uỷ ban nhân dân xã, còn 152 cuộc tổ chức tại địa bàn thôn, tổ dân phố. Nội dung tuyên truyền gồm các văn bản: Bộ Luật dân sự; Bộ Luật hình sự; Luật Đất đai; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí; Luật Khiếu nại, tố cáo; Luật Công chứng; Luật Thanh niên; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Cư trú; Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo; Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Nghị định 158/2005/NĐ-CP; Nghị định 79/2007/NĐ-CP; Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Nghị quyết 32/2007/NQ-CP về đảm bảo trật tự an toàn giao thông....

 Tổ chức trợ giúp, tư vấn pháp luật cho nhân dân tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn và tại các thôn, xóm là 99 cuộc với 10.826 lượt người tham dự. Nội dung tư vấn chủ yếu các lĩnh vực: đất đai, thừa kế, hôn nhân gia đình. Vận động và được nhân dân đồng tình hưởng ứng, ký các cam kết về phòng, chống tội phạm; phòng, chống cháy nổ; vệ sinh môi trường, trật tự đô thị. Nhiều xã đã thành lập các Câu lạc bộ như: Câu lạc bộ “Không sinh con thứ ba”, Câu lạc bộ “Gia đình văn hoá”, mô hình “làng không có tội phạm và tệ nạn xã hội”,...

Về hoà giải: Tổ cán bộ nòng cốt đã giải quyết được 819 vụ, trong đó có 542 vụ hoà giải thành và 277 vụ hoà giải không thành đã chuyển lên các ngành chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân và Toà án nhân dân cấp huyện, chủ yếu là tranh chấp đất đai và hôn nhân gia đình. Ngoài ra, tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã, Ban Tư pháp đã trực tiếp nhận đơn thư và đã giải quyết 100% đơn thư. Nhờ làm tốt công tác tư vấn, giải quyết đơn thư nên việc khiếu kiện, tranh chấp, lấn chiếm đất đai trong năm qua giảm nhiều so với trước năm 2007. Số liệu trên đây chưa bao gồm tất cả những vụ hoà giải ở thôn, xóm, khu dân cư mà chỉ những vụ việc được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn tiếp nhận giải quyết. Các vụ hoà giải ở thôn, xóm, khu dân cư chưa được cập nhật do chưa có phương pháp ghi chép, lưu trữ hồ sơ, tài liệu. Mặc dù vậy, qua báo cáo cho thấy nhiều vụ tranh chấp về ranh giới đất đai, tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư đã được các hoà giải viên giải quyết kịp thời và có hiệu quả, góp phần hạn chế các tranh chấp nhỏ trong nhân dân.  

 Và một vài nhận xét:

Sau thời gian thực hiện Đề án tại các đơn vị chọn làm điểm, nhận thức của cấp uỷ, chính quyền địa phương đã có nhiều chuyển biến tích cực, các Nghị quyết của cấp uỷ, Hội đồng nhân dân có gắn nhiệm vụ thực hiện Đề án vào nhiệm vụ chính trị của địa phương. Tổ cán bộ nòng cốt hoạt động tích cực có sự phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, tập trung tuyên truyền PBGDPL đến với người dân về những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước có hiệu quả, tạo sự nhất trí chấp hành kỷ cương, pháp luật trong đời sống của người dân, góp phần nâng cao nhận thức về pháp luật của nhân dân, phát huy dân chủ ở cơ sở, tình hình vi phạm pháp luật, tranh chấp đất đai, khiếu nại, khiếu kiện có phần giảm đáng kể. 

  Để thực hiện Đề án 4-212 từ nay đến năm 2010 cho 100% xã, phường, thị trấn trong tỉnh cần tập trung quan tâm  một số nội dung sau:

  - Đầu tư thêm kinh phí để triển khai thực hiện các nội dung của Đề án tại địa phương có hiệu quả hơn, cụ thể: tiếp tục hỗ trợ kinh phí từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng/năm cho mỗi xã, phường, thị trấn để tăng số cuộc tư vấn pháp luật, tối thiểu một năm tổ chức được 04 cuộc tư vấn pháp luật cho nhân dân; tăng cường tổ chức tuyên truyền pháp luật lưu động hay tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật tại trụ sở UBND xã, thôn, xóm; thường xuyên tổ chức tập huấn cho Tổ cán bộ nòng cốt, ít nhất một năm 02 đợt và mở rộng các đối tượng tham dự tập huấn như: Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ dân phố, cụm dân cư; già làng, trưởng bản.

          - Cần cung cấp thêm tài liệu pháp luật (bao gồm tờ rơi, tờ gấp) cho một số xã, phường, thị trấn để chuyển về thôn bởi hiện nay nhiều thôn đã có Nhà sinh hoạt thôn, tạo điều kiện để nhân dân thuận lợi trong khai thác tài liệu pháp luật.

          - Tăng cường tổ chức tuyên truyền pháp luật trên hệ thống loa truyền thanh của xã, phường, thị trấn; có kế hoạch tuyên truyền cụ thể, đảm bảo thời lượng phát bởi đây là hình thức tuyên truyền pháp luật có hiệu quả. Đối với các xã có hệ thống loa truyền thanh đã xuống cấp, cần nhanh chóng có giải pháp khắc phục như có kế hoạch xin kinh phí trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhưng trước mắt cần tích cực tuyên truyền bằng loa lưu động về tận thôn, xóm và các khu vực tập trung đông dân cư.

- UBND cấp xã cần quan tâm đầu tư kinh phí cho Tủ sách pháp luật bởi đây chính là nguồn tài liệu không thể thiếu để nhân dân và cán bộ xã giải quyết công việc hàng ngày đúng pháp luật. Hằng năm cần tiến hành rà soát, thống kê, phân loại để lập danh mục sách pháp luật còn hiệu lực, hết hiệu lực để bổ sung các văn bản mới, cần thiết kịp thời. Thực hiện tốt các hình thức khai thác Tủ sách pháp luật có hiệu quả như luân chuyển sách pháp luật với điểm bưu điện văn hoá, trung tâm học tập cộng đồng;

Cuối cùng, vấn đề quan trọng nhất hiện nay để thực hiện Đề án 4-212 có hiệu quả là đề nghị cấp có thẩm quyền tập trung vào việc nâng cao năng lực cho cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn, tăng thêm biên chế cho cơ sở, vì cán bộ Tư pháp cấp xã được Nhà nước giao thêm quá nhiều việc mà trình độ và 01 cán bộ như hiện nay thì khó hoàn thành nhiệm vụ. Trước mắt, các xã nên có giải pháp linh động như cho ký hợp đồng 01 cán bộ để giảm tải cho cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn như hiện nay. 

Thuỵ Dũng  - Sở Tư pháp Thừa Thiên Huế