Căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ cải cách tư pháp đã được Hội nghị sơ kết 03 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 26-KH/TW của Ban thường vụ Tỉnh uỷ về triển khai thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW về cải cách tư pháp ở địa phương. Năm 2008, Đảng bộ Sở Tư pháp đã chỉ đạo triển khai công tác cải cách tư pháp đúng tinh thần của Nghị quyết góp phần quan trọng vào việc xây dựng cơ quan tư pháp trong sạch vững mạnh.
Xác định nhiệm vụ phổ biến, quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, do đó Đảng bộ, lãnh đạo Sở Tư pháp đã tổ chức phổ biến, quán triệt đến 100% cán bộ, công chức, đảng viên toàn ngành nội dung Nghị Quyết số 49-NQ/TW và các văn bản chỉ đạo của Bộ Tư Pháp, tỉnh uỷ. Do đó công tác cải cách tư pháp đã đạt được một số kết quả quan trọng, góp phần mở rộng dân chủ và tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt động tư pháp, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và các cơ quan công quyền.
Công tác tham gia xây dựng thể chế và tổ chức thực hiện: Công tác tham gia xây dựng thể chế và tổ chức thực hiện đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Trong năm 2008, đã tham gia vào 16 dự thảo văn bản của Trung ương, gia ý kiến và phối hợp soạn thảo 44 dự thảo văn bản của tỉnh. Các ý kiến tham gia đều đảm bảo tiến độ, chất lượng. Thực hiện thẩm định 75 dự thảo văn bản QPPL thuộc thẩm quyền ban hành của HĐND, UBND tỉnh do các sở, ban, ngành soạn thảo và đề nghị. Công tác rà soát, kiểm tra văn bản QPPL được duy trì, hiệu quả.
Thực hiện Luật công chứng, Sở đã tham mưu với UBND tỉnh quyết định chuyển đổi các phòng công chứng sang đơn vị sự nghiệp, hoạt động của các phòng công chứng bước đầu đã đi vào nề nếp; các cơ quan Bổ trợ Tư pháp như trợ giúp pháp lý, bán đấu giá tài sản, luật sư, giám định tư pháp được quan tâm chỉ đạo thực hiện do đó tổ chức, bộ máy được củng cố kiện toàn, chất lượng, hiệu quả hoạt động được tăng cường, cơ bản đáp ứng yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp.
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được đẩy mạnh theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW. Năm 2008, Sở Tư pháp đã tham mưu giúp UBND tỉnh ban hành và thực hiện tốt Kế hoạch PBGDPL năm 2008. Phối hợp với các Sở, ban, ngành và các huyện, thành thị thực hiện phổ biến các văn bản pháp luật mới ban hành, các văn bản có ý nghĩa thiết thực đối với nhân dân, trong đó tập trung tuyên truyền về cải cách hành chính, cải cách tư pháp, pháp luật về đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng, khiếu nại tố cáo...với nhiều hình thức phong phú, đa dạng như tuyên truyền qua hoạt động TGPL, tuyên truyền trên Bản tin Tư pháp, các chuyên mục, chuyên san... Kết quả công tác này đã góp phần không ngừng nâng cao trình độ dân trí pháp lý, ý thức sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật của nhân dân.
Về kiện toàn tổ chức và tăng cường hoạt động của các tổ chức tư pháp bổ trợ: Thực hiện Pháp lệnh giám định tư pháp, Sở đã trình UBND tỉnh bổ nhiệm 03 giám định viên tư pháp trong lĩnh vực pháp y, tham mưu để UBND tỉnh đề nghị Bộ Tư pháp cấp thẻ Giám định viên tư pháp cho 08 giám định viên tư pháp trong lĩnh vực Pháp y và kỹ thuật hình sự; công tác kiểm tra, rà soát tổ chức và hoạt động của các Tổ chức giám định Tư pháp được quan tâm thực hiện. Trong năm, các tổ chức giám định đã thực hiện giám định được tổng số 1090 trường hợp đảm bảo chính xác, khách quan, đúng quy định của pháp luật.
Hoạt động luật sư ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình tố tụng. Sở Tư pháp đã tiến hành kiểm tra toàn diện hoạt động của 07 tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh, phối hợp với Sở Tư pháp Hà Nội kiểm tra 01 chi nhánh văn phòng luật sư hoạt động tại Hà Nội; thực hiện rà soát về tổ chức và hoạt động của Ban chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng kỷ lụât của Đoàn luật sư, làm thủ tục đăng ký hoạt động cho 6 Văn phòng luật sư. Đặc biệt, Sở đã chỉ đạo Ban chủ nhiệm Đoàn luật tổ chức thành công Đại hội toàn thể luật sư của tỉnh nhiệm kỳ 2008-2011...
Chất lượng hiệu quả công tác TGPL dần được nâng cao, đáp ứng nhu cầu của đối tượng trợ giúp. Bộ máy, tổ chức, biên chế chế của Trung tâm trợ giúp pháp lý tiếp tục được kiện toàn theo hướng đảm bảo về cả số lượng và chất lượng. Trung tâm đã triển khai hoạt động 2 chi nhánh TGPL, thành lập mới 18 câu lạc bộ TGPL, nâng số câu lạc bộ TGPL toàn tỉnh lên 27 câu lạc bộ; công tác phối hợp tuyên truyền, giới thiệu pháp luật được quan tâm thực hiện tốt. Trong năm 2008, Trung tâm trợ giúp pháp lý đã thụ lý và TGPL 3.700 vụ việc cho 3.740 người thực hiện đại diện, bào chữa trong tố tụng 130 vụ việc, hoà giải 62 việc, tư vấn miệng và văn bản 3.493 việc, thực hiện 70 cuộc TGPL lưu động... Bên cạnh đó, thông qua hoạt động hoà giải cơ sở, hoạt động của luật sư... đã thực hiện tư vấn pháp luật, TGPL cho các đối tượng cũng thu được kết quả khá tốt.
Công tác THADS trên địa bàn tỉnh năm 2008 có nhiều chuyển biến tích cực. Tổ chức bộ máy của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh được củng cố, kiện toàn, kết quả thi hành án về số vụ việc và tiền đạt tỷ lệ cao (đạt tỷ lệ 76,9% về số vụ việc, 71,7% về số tiền), nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài đã được giải quyết; các hoạt động nghiệp vụ, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo được giải quyết nhanh chóng, kịp thời; trong quá trình tổ chức giải quyết việc thi hành án đã tạo được sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành nhất là các ngành trong khối nội chính và UBND các cấp.
Công tác xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ tư pháp, thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở đã xây dựng Đề án tinh giảm biên chế theo quy định. Căn cứ chỉ tiêu giao biên chế năm 2008, Sở đã tổ chức thi tuyển 08 viên chức cho các đơn vị sự nghiệp trực thuộc; xây dựng kế hoạch định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức theo quy định tại Nghị định số 158/2007/NĐ-CP của Chính phủ và kế hoạch luân chuyển cán bộ của Sở giai đoạn 2008-2015, trong năm đã điều động, luân chuyển 06 đồng chí là chuyên viên và lãnh đạo cấp phòng của Sở, bổ nhiệm 05 đồng chí giữ các chức vụ Trưởng, Phó phòng. Công tác đào tạo cũng được đặc biệt quan tâm, Sở đã cử 01 đồng chí chuyên viên thi chuyên viên chính, 04 đồng chí cán bộ tham gia học lớp quản lý nhà nước chương trình chuyên viên, 02 đồng chí học tham gia học lớp thanh tra viên, 02 đồng chí thi đỗ Cao học Luật. Đề nghị bổ nhiệm 01 đồng chí vào ngạch chuyên viên chính, 01 đồng chí vào ngạch chuyên viên cao cấp. Bên cạnh đó, công tác kiện toàn, củng cố các chức danh tư pháp như: Công chứng viên, đấu giá viên, chấp hành viên, trợ giúp viên, các giám định viên Tư pháp cũng được quan tâm thực hiện.
Công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân và giải quyết khiếu, nại tố cáo: Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc các lĩnh vực công tác được Sở quan tâm thực hiện tốt. Sở đã phối hợp với các ngành liên quan tiếp tục tham mưu, đề xuất với UBND tỉnh giải quyết nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài thuộc các lĩnh vực về đòi nhà, đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, chế độ chính sách với người có công và các khiếu nại, tố cáo về nhiều lĩnh vực khác.
Về xây dựng cơ sở vật chất, Được sự quan tâm của Bộ Tư pháp và UBND tỉnh, năm 2008, trụ sở cơ quan, phòng làm việc của cơ quan Sở, các đơn vị trực thuộc và THADS tỉnh đã được cải tạo, sửa chữa nâng cấp, tất cả các cơ quan THADS trong tỉnh đã được đầu tư trụ sở làm việc và 02 đơn vị được đầu tư xây dựng kho tang tài vật. Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản đã được tỉnh đầu tư xây dựng trên diện tích 2600m2, giá trị hơn 3 tỷ đồng, đến nay cơ bản đã hoàn thành, đảm bảo khang trang có hệ thống kho bãi đáp ứng yêu cầu; Trung tâm TGPL đã được giao vốn và đang xúc tiến giải phóng mặt bằng; đặc biệt vừa qua UBND tỉnh đã giao cho cơ quan THADS tỉnh 3670m2 đất để xây dựng trụ sở, kho tàng. Đến nay đã cơ bản đền bù xong và đề nghị Bộ cho Vĩnh Phúc xây dựng trụ sở cơ quan THADS tỉnh tương xứng với nhiệm vụ do Luật Thi hành án dân sự quy định. Sở Tư pháp cũng đã đề nghị tỉnh hỗ trợ kinh phí từ nguồn ngân sách vượt thu hàng năm của tỉnh cho: THADS tỉnh, Luật sư và các tổ chức giám định tư pháp để đảm bảo hơn nữa chất lượng hoạt động.
Để tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị về chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020, trong thời gian tới Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc đề ra một số nhiệm vụ trọng tâm đó là: Tăng cường hơn nữa đối với công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL, góp phần tích cực vào việc hoàn thiện thể chế; Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai thực hiện tốt Luật Thi hành án dân sự; tiếp tục tổ chức thực hiện Chỉ thị số 21/2008/CT-TTg ngày 01/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự; tập trung chỉ đạo để tạo chuyển biến thực sự và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác THA dân sự, giải quyết xong cơ bản án tồn đọng, phấn đấu kết quả về tỷ lệ THA đạt trên 80% về số vụ, việc và trên 65% về số tiền, giảm từ 10 đến 15% án tồn đọng; Tiếp tục đẩy mạnh công tác PBGDPL; tiếp tục triển khai thực hiện tốt Luật Công chứng, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Luật sư. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, Luật sư, giám định tư pháp; đẩy mạnh thực hiện xã hội hoá các hoạt động bổ trợ tư pháp, trong đó tập trung thực hiện đề án phát triển các tổ chức hành nghề công chứng, thực hiện xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp; Quan tâm kiện toàn, nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ trợ giúp viên, công chứng viên, đấu giá viên, chấp hành viên. Tham mưu với tỉnh về tăng cường cán bộ Tư pháp - hộ tịch cơ sở; chú trọng công tác bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ tư pháp cơ sở.
Kim Yến