Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng tổ chức góp ý dự thảo nghị định về bán đấu giá tài sản

06/03/2009
Thực hiện công văn số 221/BTP-BTTP ngày 21 tháng 01 năm 2009 của Bộ Tư pháp về việc đóng góp ý kiến dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18 tháng 01 năm 2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản, ngày 16 tháng 02 vừa qua, Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng đã tổ chức cuộc họp lấy ý kiến trong cán bộ, công chức, viên chức các đơn vị có liên quan đến hoạt động bán đấu giá tài sản của Sở Tư pháp. Tại cuộc họp, các ý kiến tham gia đã tập trung vào những vấn đề cơ bản sau đây:

1. Việc phân loại tài sản bán đấu giá theo Điều 4 dự thảo cần được quy định cụ thể, chi tiết hơn ở khoản 1 về tài sản bắt buộc bán đấu giá. Theo đó cần quy định rõ hơn về một số loại tài sản bắt buộc bán đấu giá như tài sản bị tịch thu, sung quỹ nhà nước trong tố tụng hình sự, dân sự … Riêng tài sản nhà nước khi xử lý bán thì cần xác định rõ đó là tài sản do cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp quản lý để có cơ sở xử lý phù hợp. Hiện nay theo quy định của Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác (ban hành kèm theo Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 05/02/2009 của Chính phủ) thì việc xử lý tài sản cố định của công ty nhà nước có thể do công ty tự tổ chức thực hiện theo quy định pháp luật về bán đấu giá mà không cần thông qua tổ chức bán đấu giá …(khoản 3 Điều 16).

Nhiều ý kiến đề nghị dự thảo cần xác định rõ ràng, thống nhất: loại tài sản nào bắt buộc bán đấu giá và quy định cụ thể một số loại tài sản chỉ có trung tâm dịch vụ bán đấu giá được tổ chức bán, như tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước thì theo Pháp lệnh ngày 02/4/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính thì tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính do người có thẩm quyền của cơ quan trung ương, cấp tỉnh ra quyết định tịch thu thì giao cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh nơi xảy ra hành vi vi phạm để bán đấu giá (khoản 1 Điều 61) ...

2. Việc quy định 03 loại hình tổ chức bán đấu giá (chương II dự thảo) cần phải được cụ thể, chi tiết hơn. Theo quy định của Điều 16 Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác (ban hành kèm theo Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 05/02/2009 của Chính phủ) và Quy chế đấu giá đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất (Ban hành kèm theo Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg ngày 31  tháng 8  năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ) thì doanh nghiệp nhà nước, hội đồng bán đấu giá quyền sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện ... cũng là tổ chức có thẩm quyền bán đấu giá tài sản mà dự thảo đã không đề cập. Bên cạnh đó, theo Luật Thương mại 2005 tại mục 2 Chương VI cũng có quy định hoạt động bán đấu giá tài sản là hàng hóa do người bán hàng hoặc người tổ chức đấu giá thực hiện. Do đó, một số ý kiến đề nghị xác định lại phạm vi điều chỉnh của dự thảo cũng như quy định cụ thể hơn về tổ chức bán đấu giá để bảo đảm quy định pháp luật về bán đấu giá tài sản được chặt chẽ, thống nhất.

3. Một số ý kiến cho rằng: dự thảo Nghị định có quy định về vấn đề bồi thường thiệt hai trong trường hợp tổ chức bán đấu giá hoặc người ủy quyền bán đấu giá vi phạm nghĩa vụ hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền (Điều 12, 24, 46 ...). Tuy nhiên với việc quy định chung chung như vậy việc triển khai thực hiện sẽ rất khó khăn. Do đó đề nghị nên quy định cụ thể hơn trực tiếp tại dự thảo Nghị định hoặc quy định giao cho Bộ Tư pháp hướng dẫn cụ thể, chi tiết.

4. Về góp ý cụ thể, nhiều ý kiến đề nghị điều chỉnh giá trị tài sản nhà nước bắt buộc bán đấu giá (điểm d khoản 1 Điều 4 dự thảo) là 30 triệu đồng cho phù hợp thực tế ở các địa phương; đề nghị sửa lại nội dung khoản 4 Điều 9 theo hướng quy định rõ: “Trung tâm có nhiệm vụ bán đấu giá tài sản để thi hành án, tài sản nhà nước (là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, tài sản của người bị kết án, vật chứng vụ án và tài sản khác bị cơ quan, người có thẩm quyền tịch thu sung quỹ nhà nước, tài sản xác lập quyền sở hữu nhà nước ...)”.

Có ý kiến đề nghị xem lại việc tổ chức bán đấu giá tài sản phải báo cáo cho Sở Tư pháp và Bộ Tư pháp (Điều 12 dự thảo) vì tổ chức bán đấu giá tài sản chỉ cần báo cáo cho Sở Tư pháp để tổng hợp, báo cáo Bộ Tư pháp. Đề nghị xem lại nội dung câu thứ hai của khoản 1 Điều 20 dự thảo, có thể diễn đạt lại như sau: “ ... trừ trường hợp tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính được thực hiện theo quyết định tịch thu sung công quỹ và biên bản bàn giao tài sản”. Tại Điều 26 dự thảo, đề nghị không nên quy định cứng việc nộp tiền đặt trước đối với tài sản có giá khởi điểm 50 triệu đồng trở lên, đồng thời chỉ nên quy định khoản tiền đặt trước là do hai bên thỏa thuận với mức từ 5% đến 20% giá khởi điểm. Tại Điều 52 dự thảo, đề nghị bổ sung nội dung: “chỉ đạo cơ quan đăng ký kinh doanh hướng dẫn doanh nghiệp bán đấu giá thực hiện việc thông báo về đăng ký hoạt động bán đấu giá và báo cáo về tình hình hoạt động bán đấu giá cho Sở Tư pháp” để giải quyết tình trạng thực tế ở địa phương là Sở Tư pháp không thể thực hiện công tác quản lý đối với các doanh nghiệp bán đấu giá khi các doanh nghiệp này không thông báo việc đăng ký hoạt động bán đấu giá cũng như không có báo cáo tình hình hoạt động cho Sở Tư pháp.

Đây được xem là một trong hoạt động quan trọng của cơ quan tư pháp địa phương khi chuyển tải những vướng mắc từ thực tiễn công tác nhằm giúp Bộ Tư pháp hoàn thiện hơn quy định pháp luật về bán đấu giá tài sản - một trong những lĩnh vực công tác nhạy cảm và không kém phức tạp mà ngành tư pháp quản lý./.

Tạ Tự Bình