Trong thời gian vừa qua, công tác quản lý và đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới (giữa công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới Việt Nam - Lào với công dân Lào thường trú tại khu vực biên giới trên) đã được ngành Tư pháp triển khai thực hiện một cách thường xuyên, liên tục. Công tác chỉ đạo, hướng dẫn về nghiệp vụ cũng như trình tự thủ tục đăng ký cho các trường hợp nam nữ ở khu vực biên giới Việt Nam - Lào tại địa bàn tỉnh được thực hiện chi tiết, cụ thể đúng theo quy định tại Nghị định số 68/2002/NĐ-CP. Kết quả của hoạt động này đã có sự thay đổi một cách rõ nét.
Trong thời gian vừa qua, công tác quản lý và đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới (giữa công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới Việt Nam - Lào với công dân Lào thường trú tại khu vực biên giới trên) đã được ngành Tư pháp triển khai thực hiện một cách thường xuyên, liên tục. Công tác chỉ đạo, hướng dẫn về nghiệp vụ cũng như trình tự thủ tục đăng ký cho các trường hợp nam nữ ở khu vực biên giới Việt Nam - Lào tại địa bàn tỉnh được thực hiện chi tiết, cụ thể đúng theo quy định tại Nghị định số 68/2002/NĐ-CP. Kết quả của hoạt động này đã có sự thay đổi một cách rõ nét.
Tuy nhiên trên thực tế hiện tượng nam, nữ ở khu vực này tự chung sống với với nhau nhưng chưa đăng ký kết hôn vẫn còn xảy ra. Số lượng cũ được thống kê còn chưa hoàn tất việc đăng ký thì đã tiếp tục phát sinh thêm các trường hợp mới. Nhằm tiếp tục giải quyết tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn ở khu vực biên giới, tuy nhiên nhận thấy đây là vấn đề mang tính xã hội cao, việc kết hôn của đồng bào khu vực này chủ yếu tuân thủ theo phong tục tập quán lâu đời. Vì vậy chỉ riêng ngành tư pháp thực hiện thì hiệu quả sẽ không cao, và không thể giải quyết triệt để vấn đề này. Chính vì vậy, Sở Tư pháp Sơn La đã đề nghị UBND, cấp uỷ Đảng, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể thuộc các huyện có xã biên giới những nội dung sau:
1. UBND các huyện có các xã biên giới tăng cường chỉ đạo các Phòng Tư pháp tiếp tục hướng dẫn và đôn đốc UBND các xã giáp biên tích cực thực hiện việc rà soát, thống kê các trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng, xem xét nếu thấy họ có đủ điều kiện theo luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì vận động và tiến hành các thủ tục cần thiết để đăng ký kết hôn cho họ (cả những trường hợp đã được thống kê và những trường hợp mới phát sinh đều phải được cập nhật và nắm chắc về số lượng)
2. Đối với những trường hợp công dân Việt Nam được nước Cộng hoà DCND Lào trao trả do di cư tự do, sau khi được chính quyền địa phương bố trí ổn định lại nơi cư trú cũng thống kê đầy đủ đồng thời tiến hành các thủ tục đăng ký hộ tịch (Kết hôn, khai sinh…) cho những đối tượng này theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo không trường hợp nào không được đăng ký hộ tịch.
Chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ tư pháp - hộ tịch xuống tận nơi cư trú của những đối tượng này vận động, khuyến khích để họ tự giác thực hiện nghĩa vụ đăng ký các sự kiện hộ tịch tại trụ sở UBND xã hoặc tiến hành đăng ký tại nơi ở (đăng ký lưu động).
3. Đối với công dân Lào hiện đang sinh sống ổn định tại Việt Nam (khu vực các xã biên giới), nếu không có giấy tờ tuỳ thân hoặc không thể lấy xác nhận về tình trạng nhân thân cũng như tình trạng hôn nhân của mình do phía cơ quan có thẩm quyền của chính quyền nước mà họ là công dân xác nhận thì trước mắt có thể xem xét và hướng dẫn cho họ tự cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình cũng như thời gian họ sinh sống tại Việt Nam và đề nghị chính quyền cấp xã nơi họ đang sinh sống trên thực tế xác nhận, và lấy đó làm căn cứ để tiến hành các thủ tục để đăng ký kết hôn cho những trường hợp này. (Lưu ý: Chỉ đối với những trường hợp không thể lấy được xác nhận về tình trạng hôn nhân từ phía cơ quan có thẩm quyền của nước bạn Lào do những đối tượng này đã cư trú tại Việt nam quá lâu, và không có giấy tờ tuỳ thân gì chứng minh thì mới xem xét để hướng dẫn họ làm bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của họ)
Đối với những trường hợp công dân Lào có nguyện vọng xin nhập quốc tịch Việt Nam thì hướng dẫn trình tự, thủ tục và hoàn thiện hồ sơ gửi về Sở Tư pháp xem xét và trình cấp có thẩm quyền giải quyết.
4. Các cơ quan và tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội nông dân…), lực lượng bộ đội biên phòng đóng trên địa bàn huyện có xã biên giới cần chủ động phối hợp với UBND cấp huyện trong việc tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thuộc địa bàn chấp hành và thực hiện nghiêm chỉnh luật hôn nhân và gia đình (kết hôn đúng độ tuổi, không kết hôn trong phạm vi có họ 3 đời, không tảo hôn..); tự giác đăng ký kết hôn, đăng ký khai sinh cho trẻ em tại UBND xã nơi cư trú.
Vận động đồng bào thực hiện phong trào xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng theo các nội dung : phát huy những tập quán truyền thống tốt đẹp, xoá bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu, không phù hợp với xã hội hiện đại, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em, xúc phạm đến nhân phẩm và danh dự của phụ nữ... Phát huy vai trò của Trưởng thôn, Trưởng bản với cộng đồng dân bản trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành pháp luật về hôn nhân gia đình, hộ tịch…
5. Chỉ đạo Cơ quan báo, đài địa phương phối hợp với Các cơ quan thông tin đại chúng của tỉnh đổi mới nội dung và hình thức thông tin, tuyên truyền phù hợp với đặc thù, nhận thức tiếp thu của đồng bào các dân tộc; thực hiện chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc.
6. Chỉ đạo UBND cấp xã tăng cường các biện pháp răn đe, giáo dục, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân gia đình. Có biện pháp xử lý kiên quyết đối với những trường hợp vi phạm pháp luật về hôn nhân gia đình như: tảo hôn, cưỡng ép hôn nhân, kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi 3 đời, người có cùng dòng máu về trực hệ để đảm bảo kỷ cương pháp luật
7. Định kỳ 6 tháng và hàng năm phải tổng hợp số liệu riêng về những trường hợp kết hôn với người nước ngoài ở khu vực biên giới (bao gồm cả những trường hợp vi phạm pháp luật về hôn nhân gia đình và cách thức đã xử lý) báo cáo Sở Tư pháp để có biện pháp xử lý và khắc phục hiệu quả, tiến tới sẽ chấm dứt việc kết hôn không đăng ký ở khu vực biên giới.
Đây là những nội dung cần triển khai thực hiện thường xuyên để công tác quản lý và đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới Việt Nam-Lào đạt kết quả tốt. Đề nghị Chính quyền, cấp uỷ và các cơ quan ban ngành liên quan ở khu vực này cùng phối hợp thực hiện để đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước cũng như tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả của pháp luật Xã hội chủ nghĩa./.
Lê Thị Minh Giang