Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân (HĐND, UBND) được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03/12/2004 và có hiệu lực kể từ ngày 01/4/2005.
Được sự quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời của Bộ Tư pháp, cùng với sự nỗ lực, cố gắng của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác văn bản QPPL, từ khi Luật được ban hành đến nay, công tác văn bản QPPL của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực; Nhận thức của cấp uỷ, HĐND, UBND các cấp về vai trò, vị trí của công tác văn bản QPPL được nâng lên, tạo điều kiện thuận lợi đối với việc triển khai công tác này tại địa phương. Kết quả sau 3 năm thực hiện thể hiện trên các mặt: Về công tác tổ chức chỉ đạo; đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí, cán bộ:
Về thể chế:
Đối với Cấp tỉnh: Nhằm tạo sự thống nhất, đồng bộ, tăng cường nhận thức và trách nhiệm của các ngành, địa phương trong công tác văn bản QPPL, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, quy định về cơ chế, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, địa phương đối với công tác văn bản QPPL ( Chỉ thị số 24/CT-TU ngày 11/04/2007,về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác văn bản QPPL; Nghị quyết số 04/2006-NQ-HĐND ngày 17/4/2006 quy định mức chi kinh phí đảm bảo công tác kiểm tra văn bản QPPL; Nghị quyết số 01/2008/NQ-HĐND ngày 22/4/2008 quy định mức chi kinh phí đảm bảo công tác xây dựng văn bản QPPL; Nghị quyết số 09/2008/NQ-HĐND ngày 21/7/2008 về việc bổ sung khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 01/2008/NQ-HĐND ngày 22/4/2008 của HĐND tỉnh quy định mức chi kinh phí đảm bảo công tác xây dựng văn bản QPPL; Quyết định số 324/2007/QĐ-UB ngày 02/3/2005 về việc ban hành Quy chế Cộng tác viên kiểm tra văn bản QPPL; Quyết định số 3189/2005/QĐ-UB ngày 15/12/2005 về việc ban hành Quy định về ban hành, kiểm tra văn bản QPPL của tỉnh Bắc Kạn (sau đây gọi là Quyết định số 3189/2005/QĐ-UB; Quyết định số 838/2006/QĐ-UBND ngày 28/04/2006 về việc thực hiện Nghị quyết số 04/2006-NQ-HĐND quy định mức chi kinh phí đảm bảo công tác kiểm tra văn bản QPPL; Chỉ thị số 15/2007/CT-UBND ngày 22/8/2007 về việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác xây dựng, kiểm tra và rà soát văn bản QPPL của HĐND, UBND; Quyết định số 28/2007/QĐ-UB ngày 12/01/2007 về việc ban hành Quy chế tự kiểm tra văn bản QPPL của UBND tỉnh Bắc Kạn; Quyết định số 859/QĐ-UBND ngày 09/5/2008 về việc triển khai thực hiện mức chi kinh phí cho công tác xây dựng văn bản QPPL của HĐND, UBND; Quyết định số 1959/2008/QĐ-UBND ngày 15/10/2008 về việc ban hành Quy định về quản lý và sử dụng kinh phí đảm bảo cho công tác xây dựng văn bản QPPL của HĐND, UBND) Ngoài ra, UBND tỉnh thường xuyên có các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn trong quá trình thực hiện công tác văn bản QPPL như: Kế hoạch số 86/KH-UB ngày 08/06/2006 về việc thực hiện Chỉ thị số 32/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác kiểm tra văn bản QPPL; Kế hoạch số 185/KH-UBND ngày 27/12/2007 về nâng cao chất lượng công tác văn bản QPPL ở các huyện, thị xã; các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh…
Đối với Cấp huyện: Do có sự chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời, đến nay, công tác tổ chức chỉ đạo và xây dựng thể chế về công tác văn bản QPPL đã được cấp ủy, chính quyền các địa phương quan tâm triển khai, dần đưa công tác này đi vào nền nếp. 7/8 huyện, thị xã đã ban hành Quy chế kiểm tra văn bản QPPL của UBND và Quy trình thẩm định văn bản QPPL của UBND cấp huyện (riêng huyện Chợ Đồn chưa ban hành), chiếm 87,5%. Hàng năm, các huyện, thị đều xây dựng kế hoạch, tổ chức kiểm tra văn bản QPPL do HĐND, UBND cấp xã ban hành. Nhiều địa phương thường xuyên có văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về công tác văn bản QPPL như các huyện Ba Bể, Na Rì; thị xã Bắc Kạn...
Đối với Cấp xã: Trên cơ sở hướng dẫn và bản Quy chế mẫu do Sở Tư pháp xây dựng, đến nay, 76 xã, phường, thị trấn đã xây dựng, ban hành Quy chế xây dựng, kiểm tra, rà soát hệ thống hoá văn bản QPPL của HĐND, UBND, chiếm tỷ lệ 62,2%. Trong đó, các huyện Chợ Mới, Na Rì, Pác Nặm đã chỉ đạo, hướng dẫn 100% số đơn vị cấp xã ký ban hành. Các địa phương khác đang khẩn trương chỉ đạo cấp xã tiếp tục xây dựng, ban hành Quy chế trên.
Về kinh phí phục vụ cho công tác văn bản QPPL:
Mặc dù đã có các văn bản quy định, hướng dẫn của Trung ương và của tỉnh về kinh phí phục vụ cho công tác văn bản QPPL nhưng do nguồn kinh phí hạn hẹp, nhìn chung số kinh phí này chưa đáp ứng được yêu cầu triển khai công tác văn bản QPPL của tỉnh.
Đối với Cấp tỉnh: trong 2 năm được cấp 50.000.000đ (năm 2007, không được cấp kinh phí). Đối với các ngành của tỉnh, chưa có đơn vị nào dành kinh phí riêng để chi cho công tác văn bản QPPL.
Đối với Cấp huyện: Mới chỉ có một số đơn vị được cấp như Phòng Tư pháp thị xã; Phòng Tư pháp huyện Chợ Mới được cấp 4.000.000đ; Phòng Tư pháp huyện Chợ Đồn Phòng Tư pháp huyện Pác Nặm. Các đơn vị còn lại (4/8 đơn vị cấp huyện) chưa bố trí được kinh phí chi cho công tác văn bản QPPL theo quy định.
Đối với Cấp xã: Theo báo cáo của các địa phương, đến nay, ở cấp xã chưa có đơn vị nào được cấp kinh phí chi cho công tác văn bản QPPL.
Về tổ chức, cán bộ thực hiện công tác văn bản QPPL:
Cấp tỉnh: Sau khi có Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản QPPL, UBND tỉnh đã ban hành quyết định thành lập Phòng Văn bản QPPL thuộc Sở Tư pháp là đơn vị có chức năng tham mưu cho Giám đốc Sở giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về công tác văn bản QPPL.
Đội ngũ cán bộ pháp chế kiêm cộng tác viên kiểm tra văn bản QPPL cấp tỉnh được UBND tỉnh ra quyết định thành lập từ năm 2005, với tổng số 29 người. Năm 2008, đội ngũ này đã được kiện toàn, với tổng số gồm 23 người; trong đó, trình độ đại học Luật 09 người, đại học khác 14 người. Hàng năm, cán bộ pháp chế kiêm cộng tác viên kiểm tra văn bản QPPL được cấp phát tài liệu về nghiệp vụ xây dựng, kiểm tra, rà soát và hệ thống hóa văn bản QPPL; tham dự các lớp tập huấn do Bộ Tư pháp và tỉnh tổ chức. Tuy nhiên, hoạt động của đội ngũ này còn nhiều hạn chế, chủ yếu mới dừng lại ở việc tự kiểm tra các văn bản QPPL liên quan đến ngành, lĩnh vực quản lý; chưa thực hiện được chức năng phối hợp kiểm tra văn bản QPPL cấp huyện.
Cấp huyện: Hầu hết cán bộ làm công tác văn bản QPPL tại các Phòng Tư pháp đều kiêm nhiệm. 7/8 huyện, thị xã đã thành lập được đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản QPPL với tổng số 113 cộng tác viên (riêng huyện Chợ Đồn chưa thành lập). Tuy nhiên, hoạt động của đội ngũ này còn rất hạn chế, chưa thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ theo quy định.
Cấp xã: Đến nay, 122/122 xã, phường, thị trấn đã bố trí được cán bộ Tư pháp- Hộ tịch chuyên trách, trong đó, trình độ đại học Luật 14 người, trình độ trung cấp Luật 101 người, còn lại là trình độ đào tạo khác.
Hệ cơ sở dữ liệu văn bản QPPL; hệ thống sổ sách phục vụ cho công tác văn bản QPPL ở các cấp:
Cấp tỉnh:Các văn bản QPPL do cơ quan Trung ương ban hành được lưu tại các cơ quan của tỉnh bằng hệ thống Công báo Trung ương. Các văn bản QPPL do HĐND, UBND tỉnh ban hành được in trong Kỷ yếu các kỳ họp của HĐND, lưu tại Trung tâm lưu trữ của tỉnh, tập hợp và in trong hệ thống Công báo của tỉnh.
Ngoài ra, toàn bộ kết quả kiểm tra, xử lý văn bản QPPL đã thực hiện từ năm 2004 đến nay được lưu giữ tại Sở Tư pháp và các cơ quan liên quan.
Tại Sở Tư pháp, toàn bộ hệ thống sổ sách phục vụ cho công tác văn bản QPPL được in ấn, trang bị và sử dụng theo đúng quy định như sổ thẩm định văn bản, sổ tự kiểm tra văn bản, sổ kiểm tra văn bản theo thẩm quyền…
Cấp huyện:Các văn bản làm cơ sở pháp lý để ban hành văn bản QPPL chủ yếu được lưu trữ tại các cơ quan bằng hệ thống Công báo Trung ương và các tập hệ thống hóa văn bản QPPL hàng năm của tỉnh. Hệ thống văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp huyện được tập hợp và in trong hệ thống Công báo của tỉnh.
Cấp xã:Các văn bản làm cơ sở pháp lý để ban hành văn bản QPPL chủ yếu được khai thác từ hệ thống Công báo Trung ương, Công báo của tỉnh và các tập hệ thống hóa văn bản QPPL hàng năm của tỉnh.
Sở Tư pháp đã biên soạn, in ấn và cấp phát cho các huyện, thị xã và cấp xã toàn bộ hệ thống sổ sách phục vụ cho công tác văn bản QPPL với tổng số 512 cuốn (gồm sổ theo dõi riêng việc ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND; sổ thẩm định văn bản; sổ tự kiểm tra văn bản; sổ kiểm tra văn bản theo thẩm quyền).
Công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác văn bản QPPL:
Công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên được chú trọng. Hàng năm, từ cấp tỉnh đến cấp xã mỗi năm tổ chức tập huấn ít nhất 01 lần cho các đối tượng là cán bộ Phòng Văn bản QPPL - Sở Tư pháp; cán bộ làm công tác văn bản QPPL của Văn phòng HĐND, UBND; cán bộ pháp chế kiêm cộng tác viên kiểm tra văn bản QPPL cấp tỉnh; Chánh Văn phòng, cán bộ Văn phòng HĐND, UBND; Trưởng phòng Tư pháp, cán bộ làm công tác văn bản QPPL của Phòng Tư pháp, cộng tác viên kiểm tra văn bản QPPL cấp huyện; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, UBND và cán bộ Tư pháp cấp xã. Các địa phương tổ chức tốt công tác tập huấn nghiệp vụ công tác văn bản QPPL như các huyện Ba Bể, Chợ Mới, Bạch Thông, Pác Nặm.
Về kết quả các mặt công tác văn bản QPPL:
Cấp tỉnh: Việc lập, thông qua, điều chỉnh chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND tỉnh; Chương trình ban hành quyết định, chỉ thị của UBND tỉnh
Thực hiện quy định của Luật và Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06/09/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND (sau đây gọi là Nghị định số 91/2006/NĐ-CP), hàng năm, Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh và Sở Tư pháp phối hợp tổng hợp danh mục văn bản QPPL của HĐND, UBND tỉnh sẽ ban hành trong năm tiếp theo, đảm bảo đúng thời gian quy định (cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh gửi đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND tỉnh đến Văn phòng UBND tỉnh trước ngày 01/10; đề nghị xây dựng quyết định, chỉ thị của UBND tỉnh đến Văn phòng UBND tỉnh trước ngày 01/12). Trên cơ sở đó, HĐND tỉnh thông qua Nghị quyết, UBND tỉnh ban hành Quyết định về chương trình xây dựng văn bản QPPL.
Công tác xây dựng văn bản QPPL:
* Việc xây dựng văn bản, tổ chức lấy ý kiến đối với các dự thảo văn bản QPPL của các sở, ban, ngành, cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh:
Công tác soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến đối với các dự thảo văn bản QPPL nhìn chung được các cơ quan thực hiện theo đúng quy định, đảm bảo chất lượng. Bên cạnh đó, vẫn còn những hạn chế trong công tác này như việc thực hiện quy định của UBND tỉnh về thời gian tổ chức lấy ý kiến chưa được các cơ quan, đơn vị thực hiện nghiêm túc hoặc tài liệu gửi để xin ý kiến không đầy đủ. Tại Điều 10 của Quyết định số 3189/2005/QĐ-UB quy định: “…dành ít nhất bảy ngày làm việc, trước ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượng được lấy ý kiến góp ý vào dự thảo văn bản QPPL”.
* Công tác soạn thảo, tham gia soạn thảo; tham gia ý kiến; thẩm định văn bản QPPL của Sở Tư pháp:
Trong quá trình lấy ý kiến tham gia đối với các dự thảo, việc lấy ý kiến của cơ quan Tư pháp đã được các sở, ban, ngành, cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh chú trọng. Sở Tư pháp đã có báo cáo tham gia ý kiến đối với 49 dự thảo văn bản QPPL của HĐND, UBND tỉnh. Qua đó, góp phần đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo và ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản QPPL ngay từ khâu soạn thảo; giảm bớt thời gian họp tham gia ý kiến, hoàn chỉnh các dự thảo văn bản trước khi thực hiện các khâu tiếp theo để trình cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Tuy nhiên, trong công tác này vẫn còn nhiều mặt hạn chế. Nhiều quy định hiện hành chưa được các cơ quan, đơn vị tuân thủ nghiêm chỉnh dẫn đến khó khăn cho cơ quan thẩm định hoặc ảnh hưởng đến tiến độ thẩm định như: Việc gửi công văn đề nghị thẩm định và hồ sơ thẩm định muộn hơn so với quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật và khoản 1 Điều 11 của Quyết định số 3189/2005/QĐ-UB; Đa số hồ sơ thẩm định của các cơ quan khi gửi đến Sở Tư pháp đều thiếu so với quy định tại khoản 2 Điều 24, khoản 2 Điều 38 của Luật và khoản 2 Điều 11 của Quyết định số 3189/2005/QĐ-UB. Trong đó, phổ biến là thiếu quyết định ban hành văn bản (đối với các văn bản ban hành quy chế, quy định), tờ trình ban hành văn bản, các văn bản làm căn cứ pháp lý để ban hành văn bản, bản tổng hợp kết quả tham gia ý kiến đối với dự thảo văn bản…Trong khâu soạn thảo, lấy ý kiến tham gia đối với dự thảo văn bản, nhiều cơ quan soạn thảo không mời Sở Tư pháp tham gia hoặc không lấy ý kiến tham gia của Sở Tư pháp dẫn đến chất lượng của các dự thảo, đề án không cao, cá biệt có dự thảo, đề án không được HĐND, UBND tỉnh thông qua hoặc ký ban hành do không có tính khả thi, không có cơ sở pháp lý hoặc không cần thiết phải ban hành. Riêng về ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản, hầu hết các dự thảo đều không đảm bảo tuân thủ theo đúng quy định của Luật, Nghị định số 91/2006/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06/5/2005 của Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản (không ghi năm ban hành tại phần số, ký hiệu văn bản; không có quy định về hiệu lực thi hành của văn bản; nơi nhận của văn bản không có tên cơ quan giám sát, kiểm tra văn bản…)
Công tác kiểm tra văn bản QPPL:
* Công tác tự kiểm tra:Hàng năm, Sở Tư pháp chủ động tham mưu giúp UBND tỉnh tự kiểm tra văn bản QPPL do UBND tỉnh ban hành. Kết quả cụ thể như sau:
Số văn bản đã tự kiểm tra: 200. Trong đó:
- Số văn bản đã phát hiện có dấu hiệu trái pháp luật hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương: 13;
- Số văn bản đã kiến nghị xử lý: 13. Trong đó, số văn bản đã xử lý: 05 (huỷ: 04 văn bản; bãi bỏ: 01 văn bản); số văn bản chưa xử lý: 08.
Những văn bản chưa xử lý đã hết thời hạn xử lý theo quy định của pháp luật, nhưng do còn có nhiều ý kiến khác nhau của các ngành liên quan, nên UBND tỉnh chưa tiến hành xử lý theo quy định.
* Công tác kiểm tra theo thẩm quyền
Do có sự chỉ đạo kịp thời, đến nay, tất cả các huyện, thị xã đều thực hiện việc gửi văn bản QPPL do HĐND, UBND ban hành đến Sở Tư pháp để kiểm tra. Tổng số văn bản QPPL Sở Tư pháp nhận được gồm 376 văn bản. Trong đó, 51 văn bản không phải là văn bản QPPL nên không thuộc phạm vi kiểm tra, văn bản thuộc thẩm quyền kiểm tra gồm 325. Kết quả cụ thể như sau:
- Số văn bản phát hiện có dấu hiệu trái pháp luật, vi phạm quy định tại Điều 3, Nghị định số 135/2003/NĐ-CP: 75 văn bản (sai thể thức: 70 văn bản; sai nội dung: 05 văn bản). Đã thông báo để cơ quan, người có thẩm quyền tự kiểm tra, xử lý: 05 văn bản. Số văn bản đã được tự kiểm tra, cơ quan, người ban hành xử lý: 05 (bãi bỏ: 02; sửa đổi, bổ sung: 03).
- Số văn bản vi phạm điểm a, b khoản 1 Điều 26 của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP đã đề nghị cơ quan, người ban hành tự xử lý: 01; kết quả, đã xử lý: 01.
- Kết quả kiểm tra từng năm như sau:
+ Năm 2006: Tổng số văn bản QPPL sai thể thức, sai nội dung/tổng số văn bản QPPL gửi đến Sở Tư pháp chiếm 26,3%.
+ Năm 2007: Tổng số văn bản QPPL sai thể thức, sai nội dung/tổng số văn bản QPPL gửi đến Sở Tư pháp chiếm 36%.
+ Năm 2008: Tổng số văn bản QPPL sai thể thức/tổng số văn bản QPPL gửi đến Sở Tư pháp chiếm 78%.
- Tỷ lệ văn bản không phải là văn bản QPPL gửi đến Sở Tư pháp: năm 2006 chiếm 15%; năm 2007 chiếm 10%; năm 2008 chiếm 5,4%.
Công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL:
Đến nay, đã hoàn thành việc biên tập, xuất bản các tập hệ thống hóa văn bản QPPL do HĐND, UBND tỉnh ban hành từ năm 1997 đến hết năm 2005 (từ năm 1997 đến năm 2000: 177 văn bản; năm 2001: 71 văn bản; năm 2002: 57 văn bản; năm 2003: 74 văn bản; năm 2004: 64 văn bản; năm 2005: 86 văn bản) với tổng số 2.580 cuốn.
Năm 2007, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch tổng rà soát văn bản QPPL do HĐND, UBND các cấp của tỉnh ban hành từ năm 1997 đến năm 2007. Qua đợt tổng rà soát, ở cấp tỉnh đã sưu tầm, tập hợp được 757 văn bản. Trong đó, văn bản của HĐND tỉnh 159 văn bản; văn bản của UBND tỉnh 598 văn bản. Kết quả tổng rà soát sẽ được in thành tuyển tập văn bản QPPL của tỉnh.
Ngày 09/10/2008, HĐND tỉnh đã thông qua Nghị quyết số 17/NQ-HĐND về việc công bố danh mục văn bản QPPL do HĐND tỉnh ban hành từ năm 1997 đến năm 2007 đã hết hiệu lực pháp luật; ngày 24/9/2008, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1806/QĐ-UB về việc công bố danh mục văn bản QPPL do UBND tỉnh ban hành từ năm 1997 đến năm 2007 đã hết hiệu lực pháp luật.
Cấp huyện:
Công tác xây dựng văn bản, tổ chức lấy ý kiến đối với các dự thảo văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp huyện; thẩm định văn bản QPPL của Phòng Tư pháp:
Trong 3 năm, các huyện, thị xã đã tổ chức lấy ý kiến tham gia đối với 169 dự thảo văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp huyện trước khi ban hành.
Đến nay, hầu hết các Phòng Tư pháp đều được UBND cấp huyện giao thực hiện nhiệm vụ thẩm định văn bản QPPL của UBND cấp huyện trước khi ban hành. Các địa phương thực hiện tương đối nền nếp công tác này như thị xã Bắc Kạn, huyện Chợ Mới.
Công tác kiểm tra văn bản QPPL:
* Công tác tự kiểm tra:Công tác kiểm tra văn bản QPPL được các địa phương chú trọng. Tại một số địa phương, công tác này đã dần đi vào nền nếp. Kết quả cụ thể như sau:
Số văn bản đã tự kiểm tra: 498. Trong đó:
- Số văn bản đã phát hiện có dấu hiệu trái pháp luật hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế- xã hội của địa phương: 15;
- Số văn bản đã kiến nghị xử lý: 13. Trong đó, số văn bản đã xử lý: 09; chưa xử lý: 04.
- Số văn bản hết hiệu lực: 200.
* Công tác kiểm tra theo thẩm quyền:
Một số địa phương thực hiện tốt công tác này; hàng năm, có thông báo kết quả kiểm tra đến các xã, phường, thị trấn như các huyện Ba Bể, Na Rì, thị xã Bắc Kạn. Các địa phương khác đã triển khai nhưng chưa đầy đủ, nguyên nhân chủ yếu do thiếu cán bộ làm công tác kiểm tra và do HĐND, UBND cấp xã không gửi văn bản QPPL đến Phòng Tư pháp để kiểm tra theo quy định. Một số Phòng Tư pháp tiến hành kiểm tra trực tiếp tại các địa phương như Phòng Tư pháp các huyện Ba Bể, Ngân Sơn; thị xã Bắc Kạn. Kết quả cụ thể như sau:
Tổng số văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp xã gửi đến Phòng Tư pháp để kiểm tra: 1.036. Trong đó:
- Số văn bản phát hiện có dấu hiệu trái pháp luật, vi phạm quy định tại Điều 3, Nghị định số 135/2003/NĐ-CP, không có cơ sở pháp lý để ban hành: 47.
- Đã thông báo để cơ quan, người có thẩm quyền tự kiểm tra, xử lý: 36 văn bản. Trong đó, số văn bản đã được tự kiểm tra, xử lý: 22; số văn bản đề nghị Chủ tịch UBND cùng cấp xử lý: 05; kết quả, đã xử lý 05 văn bản.
Công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL:
Hầu hết các huyện, thị xã mới dừng ở bước sưu tầm, tập hợp, rà soát văn bản QPPL do HĐND, UBND cấp huyện ban hành. Chưa có địa phương nào thực hiện được việc biên tập, xuất bản các tập hệ thống hóa văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp huyện.
Thực hiện Kế hoạch tổng rà soát văn bản QPPL do HĐND, UBND các cấp của tỉnh ban hành từ năm 1997 đến năm 2007, một số địa phương đã triển khai thực hiện tốt công tác này như thị xã Bắc Kạn, huyện Na Rì. Các huyện, thị xã đã sưu tập được 1.069 văn bản; trong đó văn bản của HĐND: 352 văn bản; văn bản của UBND gồm 717 văn bản (315 quyết định; 402 chỉ thị). Tuy nhiên, theo báo cáo của các địa phương, đến nay chỉ có thị xã Bắc Kạn công bố được các danh mục văn bản QPPL theo quy định.
Có thể nói trong ba năm qua, công tác văn bản QPPL của tỉnh đã đạt được những kết quả nhất định, có sự chuyển biến tích cực. Công tác văn bản QPPL đã dần đi vào nền nếp, đặc biệt là ở cấp tỉnh; hệ thống thể chế đảm bảo cho công tác này đã và đang được hoàn thiện. Trong đó, có những mặt được thực hiện tương đối tốt như việc tổ chức lấy ý kiến đối với các dự thảo; công tác thẩm định dự thảo văn bản QPPL; việc rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL hàng năm. Các cấp, các ngành, địa phương đã có sự nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của công tác này nên đã quan tâm đầu tư góp phần đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống văn bản QPPL do HĐND, UBND ban hành, hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả do việc ban hành văn bản trái pháp luật gây ra. Kết quả công tác thẩm định dự thảo văn bản QPPL; kiểm tra, xử lý văn bản QPPL có tác động tích cực đến chất lượng văn bản QPPL như số lượng văn bản QPPL ban hành sai thủ tục hoặc có nội dung trái pháp luật giảm; hệ thống văn bản QPPL của HĐND, UBND được ban hành theo quy trình tương đối chặt chẽ, khoa học, đặc biệt là ở cấp tỉnh.
Ở cấp huyện, cấp uỷ, HĐND và UBND đã chú trọng quan tâm, chỉ đạo công tác văn bản QPPL, trong đó, nhiều địa phương triển khai đạt kết quả tốt. Một số Phòng Tư pháp khẳng định được vai trò trong công tác xây dựng, kiểm tra văn bản QPPL như thị xã Bắc Kạn, huyện Chợ Mới, huyện Ba Bể.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác văn bản QPPL của tỉnh vẫn còn những mặt hạn chế lớn sau đây:
Đối với cán bộ làm công tác văn bản QPPL, đội ngũ cán bộ pháp chế kiêm cộng tác viên kiểm tra văn bản QPPL cấp tỉnh mặc dù đã được thành lập, kiện toàn nhưng chưa phát huy được vai trò và hiệu quả trong công tác xây dựng, kiểm tra văn bản QPPL. Một số cơ quan, đơn vị cấp tỉnh chưa quan tâm đến việc xây dựng cán bộ pháp chế, cộng tác viên kiểm tra văn bản QPPL (không cử cán bộ tham gia khi có đề nghị). Ở cấp huyện, hầu hết cán bộ làm công tác văn bản QPPL tại các Phòng Tư pháp đều kiêm nhiệm; hoạt động của đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản QPPL còn rất hạn chế, chưa thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ theo quy định.
Trong công tác xây dựng văn bản QPPL, ở cấp tỉnh, các quy định hiện hành về thẩm định văn bản chưa được thực hiện đầy đủ như gửi công văn đề nghị thẩm định và hồ sơ thẩm định muộn hơn so với quy định; hồ sơ thẩm định thiếu so với quy định… Trong khâu soạn thảo, lấy ý kiến tham gia đối với dự thảo văn bản, nhiều cơ quan chưa chú trọng việc phối hợp với Sở Tư pháp nhằm nâng cao chất lượng của dự thảo văn bản. Ở cấp huyện, việc thực hiện gửi dự thảo văn bản QPPL đến Phòng Tư pháp để thẩm định trước khi ban hành chưa được các phòng, ban, cơ quan chuyên môn của UBND cấp huyện thực hiện nghiêm túc và đầy đủ.
Trong công tác kiểm tra văn bản QPPL, đa số các huyện, thị xã chưa thực hiện đầy đủ nhiệm vụ theo quy định của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP. Việc gửi văn bản QPPL để kiểm tra chưa được thực hiện theo đúng quy định về loại văn bản phải gửi (nhiều văn bản gửi đến Sở Tư pháp là văn bản áp dụng pháp luật) và thời hạn gửi văn bản. Hầu hết các huyện, thị xã không thường xuyên nắm tình hình ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND cấp xã; không đôn đốc việc triển khai công tác văn bản QPPL, không đánh giá được thực trạng công tác văn bản QPPL cấp xã.
Trong công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL, các huyện, thị xã chưa thực hiện được việc biên tập, xuất bản các tập hệ thống hóa văn bản QPPL của HĐND, UBND; lập và công bố các danh mục văn bản QPPL theo quy định.
Về điều kiện đảm bảo cho công tác văn bản QPPL, mặc dù UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo (như Chỉ thị, Kế hoạch…) nhưng đến nay nhiều đơn vị cấp huyện vẫn chưa được bố trí kinh phí phục vụ cho công tác văn bản QPPL; một số nơi đã bố trí nhưng quá eo hẹp, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Phát huy những kết quả đạt đựợc trong thời gian tới cần thực hiện tốt các nhiệm vụ giải pháp sau:
- Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ, chính quyền đối với công tác văn bản QPPL. Chỉ đạo các sở, ban, ngành, cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh tăng cường phối hợp với Sở Tư pháp trong khâu soạn thảo, lấy ý kiến tham gia đối với dự thảo văn bản nhằm nâng cao chất lượng của dự thảo văn bản ngay từ khâu soạn thảo.
- Tiếp tục chỉ đạo, đôn đốc các địa phương triển khai công tác văn bản QPPL theo đúng quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành như ban hành Quy chế kiểm tra văn bản QPPL của UBND và Quy trình thẩm định văn bản QPPL của UBND, thành lập cộng tác viên kiểm tra văn bản QPPL cấp huyện; xây dựng, ban hành Quy chế xây dựng, kiểm tra, rà soát hệ thống hoá văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp xã...
- Tăng cường bố trí cán bộ pháp chế chuyên trách có trình độ đại học luật tại bộ phận pháp chế của các sở, ban, ngành, cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh. Bổ sung biên chế cán bộ cho các cơ quan Tư pháp địa phương phù hợp với chức năng nhiệm vụ theo quy định.
-. Chỉ đạo thực hiện việc gửi văn bản QPPL đến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra theo đúng quy định; khẩn trương xử lý văn bản trái pháp luật theo đúng quy định của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP đối với những văn bản đã hết thời hạn xử lý nhưng chưa được xử lý.
- Chỉ đạo các địa phương cấp đầy đủ kinh phí phục vụ cho công tác văn bản QPPL theo quy định.
- Đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ cho công tác văn bản QPPL, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác xây dựng, kiểm tra văn bản QPPL.
Hương Loan