Huyện Chư Prông (Gia Lai): Hòa giải tốt bằng phong tục tập quán

03/02/2009
Huyện Chư prông là huyện biên giới của tỉnh Gia Lai với 42 km đường biên giới giáp với nước bạn Campuchia, bao gồm 11 dân tộc anh em, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 46% dân số. Trong những năm qua, thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở đã góp phần thiết thực đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với mọi tầng lớp nhân dân; duy trì, phát huy các phong tục tập quán tốt đẹp, ngăn chặn, đẩy lùi những tập tục lạc hậu…

Trước năm 1998, hoạt động giải quyết các tranh chấp mâu thuẫn trong cộng đồng người đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Chư Prông chủ yếu theo phong tục tập quán, “luật tục”, trong đó còn tồn tại nhiều tập tục lạc hậu, hà khắc như: giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng hình thức “lặn nước”, đổ chì nóng chảy vào bàn tay.... Nhưng hiện nay, việc giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn trong cộng đồng dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định của pháp luật, theo hương ước và những phong tục, tập quán tốt đẹp của đồng bào bởi những hủ tục lạc hậu, vi phạm pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số đã được ngăn chặn và dần loại bỏ, thay thế bằng những quy định của pháp luật để giải quyết thoả đáng hơn, chính xác hơn.

Trưởng Phòng Tư pháp huyện Chư Prông Trần Thanh Long cho biết, từ khi thực hiện Pháp lệnh hoà giải ở cơ sở (HGCS) năm 1998, công tác HGCS trên địa bàn huyện đã có những chuyển biến rõ rệt, góp rất lớn vào việc ngăn chặn, loại bỏ các tập tục lạc hậu của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn. Lực lượng hòa giải viên trở thành lực lượng nòng cốt tại khu dân cư trong công tác đấu tranh, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giữ vững an ninh chính trị, an ninh biên giới, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Họ là những thanh niên đã biết vận dụng những quy định của pháp luật vào việc giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn, trong đó có nhiều hoà giải viên giỏi, tạo được uy tín trong cộng đồng dân cư như anh Rơ Mah Chiêu (xã Ia Púch), KPă Geo (xã Ia Phìn), Kpă Bập (xã Ia Boong)…

Thực tế hiện nay, trên địa bàn huyện Chư Prông nhiều sáng kiến, kinh nghiệm đã được áp dụng trong việc giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn theo phong tục, tập quán người Jrai và đã đem lại hiệu quả rất cao. Điển hình như tổ hoà giải làng Klan (xã Ia Băng) thường đưa các tranh chấp, mâu thuẫn trong làng ra nhà rông văn hoá của làng để giải quyết. Khi giải quyết xong già làng, đại diện thôn, làng nhắc nhở, rút kinh nghiệm cho mọi người về trách nhiệm duy trì tình đoàn kết gắn bó giữa mọi người, chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Hay người Jrai sống tại làng Gà (xã Ia Boòng) và người Kinh di cư đến đã cùng xây dựng hương ước và Tổ hòa giải làng Gà cũng có một số quy định riêng của những hộ người Kinh, có cụm hoà giải riêng khi giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn trong những hộ người Kinh. Còn Tổ hoà giải làng Chư Có (xã Ia Púch) đã được chia làm 03 cụm, mâu thuẫn xảy ra ở cụm nào thì họ sẽ mời hoà giải viên ở cụm đó để giải quyết, nếu vụ việc phức tạp các cụm sẽ báo cho tổ tưởng đến họp để thống nhất cách giải quyết. Việc làm này đã phát huy hết các năng lực của hoà giải viên, người dân đỡ mất công đi lại, hạn chế áp lực, công việc lên một số thành viên chủ chốt.

Nhờ đó, tỷ lệ hoà giải thành ở huyện Chư Prông thường đạt từ 92% - 95%, việc chấp hành cách giải quyết của cộng đồng gần như là tuyệt đối. Ngay cả khi các vụ việc phải đưa ra chính quyền giải quyết thì việc vận dụng phong tục tập quán, huy động các ban, ngành, đoàn thể, những người có uy tín tham gia cùng chính quyền giải quyết vẫn mang tính chất quyết định để có thể giải quyết thành công. Điều cơ bản nhất là việc vận dung hương ước, phong tục tập quán khi HGCS đã góp phần duy trì bản sắc dân tộc, sự đoàn kết gắn bó trong cộng đồng người Jrai.

Tuy nhiên, việc hòa giải bằng phong tục, tập quán của người Jrai cũng vẫn còn một số điểm hạn chế như việc giải quyết tập hợp nhiều người, lãng phí thời gian và công sức; xác định lỗi và hình thức xử phạt theo “Luật tục” không giải quyết thoả đáng quyền và lợi ích của các bên, nhiều khi vi phạm pháp luật nghiêm trọng (ví dụ: cho phép vợ chồng bỏ nhau); phạt vạ nhiều khi ảnh hưởng lớn đến kinh tế của người vi phạm, thậm chí khánh kiệt tài sản, làm mất đi ý nghĩa của việc hoà giải, không có tính chất động viên người vi phạm sữa chữa lỗi lầm… Không những thế, có những quy định “luật tục” được hiểu và vận dụng khác nhau trong các cộng đồng dân cư, chủ yếu mang tính kinh nghiệm, chưa có cơ sở lý luận vững chắc.

Để phát huy hình thức HGCS bằng phong tục, tập quán tiến bộ của người Jrai, ông Long thấy rằng, cần áp dụng linh hoạt các quy định của pháp luật vào giải quyết tranh chấp mâu thuẫn, nên đưa ra các quy định pháp luật và quy định của “luật tục” tiến bộ để các bên cân nhắc lựa chọn. Muốn vậy, vai trò của các hoà giải viên là rất quan trọng, phải là ngươì có kiến thức pháp luật, có khả năng thuyết phục các bên lựa chọn cách giải quyết phù hợp nhất, đúng đắn nhất. Cần tăng cường và đẩy mạnh công tác xây dựng và thực hiện hương ước các thôn, làng; xây dựng, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các Tổ HGCS, trong đó chú trọng kết hợp giữa những thành viên là già làng, là người có uy tín với những người có hiểu biết rộng, có kiến thực pháp luật; thường xuyên tổ chức tập huấn kĩ năng nghiệp vụ và kiến thức pháp luật cho lực lượng hòa giải viên.

Ngoài ra, Bộ Tư pháp phải tổ chức nghiên cứu sâu và toàn diện về việc vận dụng hương ước, phong tục, tập quán tốt đẹp trong thực thi pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số Tây nguyên, cung cấp những tài liệu về tuyên truyền, vận dụng hương ước, phong tục tập quán tốt đẹp của đồng bào các dân tộc thiểu số để có thể phát huy hiệu quả và nhân rộng mô hình HCGS này./.

Huy Anh

Cho đến nay toàn huyện Chư Prông đã xây dựng và ra quyết định công nhận cho 176 Tổ hòa giải/176 thôn, làng, tổ dân phố với 806 hoà giải viên. Chất lượng đội ngũ hòa giải viên được nâng lên, trước năm 1998 hầu hết các hòa giải viên chỉ là già làng, những người có uy tín nhưng không có trình độ gì thì cho đến nay đã có 34 người có trình độ sơ cấp, trung cấp; 171 người là đảng viên, 68 người là cán bộ hưu trí, 144 người là đoàn viên thanh niên. Sau 10 năm thực hiện Pháp lệnh HGCS, tổng số vụ việc được hoà giải là 3.028 việc, trong đó hoà giải thành công 2.482 việc, đạt tỷ lệ 82%. Nhiều vụ việc phức tạp, tranh chấp, mâu thuẫn xảy ra gay gắt nhưng đã được các Tổ HGCS hoà giải thành công.