Nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp năm 2009 tư pháp Bắc Giang

22/01/2009
Năm 2009 là năm có ý nghĩa quan trọng trong việc triển khai sâu rộng các văn bản pháp luật mới ban hành liên quan trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của ngành, một số nội dung công tác mới được tăng cường đòi hỏi toàn ngành cần tập trung nỗ lực cao độ trong việc triển khai thực hiện.

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, nhiều khó khăn, thách thức mới đặt ra cho ngành Tư pháp trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ. Để thực hiện tốt Quyết định số 136/QĐ- BTP ngày 14/01/2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Chương trình công tác trọng tâm của ngành Tư pháp năm 2009, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, ngành Tư pháp  Bắc Giang xây dựng  kế  hoạch thực hiện các  nhiệm vụ trọng tâm như  sau:

I.  CÁC  NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM

1. Tăng cường năng lực và hiệu quả công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá  văn bản quy phạm pháp luật ( QPPL ); triển khai nhiệm vụ công tác theo dõi chung về thi hành pháp luật

1.1. Nâng cao chất lượng và  bảo đảm đúng tiến độ thời gian trong việc soạn thảo, tham gia soạn thảo, đóng góp ý kiến và thẩm định dự thảo văn bản QPPL. Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng thẩm định văn bản QPPL, đảm bảo 100% văn bản QPPL của HĐND và UBND trước khi ban hành đều được ngành Tư pháp thẩm định nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, khả thi của văn bản  QPPL. Tham mưu giúp UBND tỉnh xây dựng, ban hành 03 văn bản QPPL liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của ngành: Chỉ thị về việc tăng cường công tác công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh, Quy chế mẫu về hoạt động của Ban Tư pháp xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh, Quy định về  chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ công tác của Sở Tư pháp ( sửa đổi ).

1.2. Tăng cường công tác rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL, chú trọng việc rà soát văn bản QPPL có liên quan đến các lĩnh vực quản lý của ngành, kịp thời phát hiện sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật để kiến nghị xử lý. Toàn ngành tham mưu giúp HĐND, UBND hoàn thành  việc rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL ban hành trong năm 2008 ( trong quý I/2009 xong ở cấp tỉnh, quý II/2009 xong ở cấp huyện ).

1.3. Triển khai có hiệu quả công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL theo thẩm quyền. Năm 2009, ngành Tư  pháp giúp HĐND và UBND tự kiểm tra 100% văn bản QPPL đã ban hành; Sở tiến hành kiểm tra công tác văn bản tại 04 huyện: Yên Dũng, Lục Ngạn, Hiệp Hoà, Yên Thế. Xây dựng hệ cơ sở dữ  liệu văn bản QPPL phục vụ cho công tác thẩm định, kiểm tra văn bản QPPL. Mỗi Phòng Tư pháp kiểm tra công tác văn bản tại ít nhất 60% xã, phường, thị trấn. Chú trọng đến việc xử lý văn bản có vi phạm về thẩm quyền nội dung, hình thức, bảo đảm 100% văn bản có sai sót khi kiểm tra phát hiện được xử lý theo quy định.

1.4. Tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng và triển khai kế hoạch về theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh; hướng dẫn, đôn đốc các Sở, ngành, UBND các huyện, thành phố theo dõi, đánh giá, báo cáo về tình hình thi hành pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Sở, ngành, địa phương.

2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật ( PBGDPL ) nhằm nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân  dân

2.1.  Tiếp tục đổi mới nội dung, đa dạng hoá hình thức  PBGDPL  nhằm đưa pháp luật đến với đông đảo người dân, hướng công tác PBGDPL về cơ sở. Phát huy vai trò của Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL nhằm tạo bước chuyển biến mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp thực hiện công tác PBGDPL. Tham mưu cho Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL tỉnh triển khai đồng bộ các nội dung của Chương trình PBGDPL của Chính phủ và của tỉnh giai đoạn 2008- 2012, Đề án củng cố và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho công tác PBGDPL giai đoạn 2008-2012; sơ kết 05 năm thực hiện Chỉ thị số 32- CT-TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Tiếp tục thực hiện giai đoạn II ( 2009- 2010 ) Chương trình hành động quốc gia PBGDPL và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn giai đoạn 2005-2010 ( chương trình 212 ) và Đề án số 04 trong Chương trình 212. Tổ chức hội thi “ cán bộ Tư pháp- Hộ tịch giỏi năm 2009 ” trong toàn tỉnh.

 2.2. Phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể đánh giá hiệu quả thực hiện các chương trình phối hợp PBGDPL đã ký kết để cùng thống nhất  biện pháp phối hợp có hiệu quả hơn. Tập trung nâng cao chất lượng các chuyên trang, chuyên mục về PBGDPL trên Báo Bắc Giang, Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh, Đài Truyền thanh- Truyền hình huyện, thành phố, hệ thống truyền thanh cơ sở.

Chủ động tham gia tích cực vào hoạt động PBGDPL theo các chương trình: phòng chống tội phạm, phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ  và trẻ em, phòng chống HIV/AIDS, ma tuý, mại dâm và an toàn giao thông.

2.3. Đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng Bản tin Tư pháp nhằm thông tin kịp thời những văn bản mới ban hành và phản ánh hoạt động của toàn ngành, nhất là hoạt động tư  pháp cơ  sở, đảm bảo Bản tin được phát hành 01 số/ tháng.

  2.4. Tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn việc khai thác, sử dụng tủ sách pháp luật ở cơ sở, tiến hành rà soát bổ sung sách pháp luật cho tủ sách pháp luật xã, phường, thị trấn. Tổ chức sơ kết việc luân chuyển sách pháp luật từ  tủ sách đặt tại trụ sở UBND đến Điểm Bưu điện văn  hoá  xã  theo Kế hoạch liên ngành giữa Sở Tư pháp và Bưu điện tỉnh, phối hợp chỉ đạo thực hiện việc luân chuyển sách pháp luật tới Nhà văn hoá, Thư  viện thôn, bản để nhân dân thuận tiện khai thác, sử dụng.

 2.5. Phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc các cấp trong việc chỉ đạo củng cố, kiện toàn tổ chức và hướng dẫn hoạt động của các tổ hoà giải ở cơ sở, phấn đấu toàn tỉnh tỷ lệ hoà giải thành đạt 85% trở lên.

 Trong năm 2009, nội dung PBGDPL tập trung vào các văn bản QPPL mới ban hành, văn bản QPPL liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước của ngành Tư pháp, các văn bản QPPL có liên quan đến những lĩnh vực bức xúc, nhạy cảm của đời sống xã hội, những văn bản pháp luật phục vụ nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.

3. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh

3.1. Tiếp tục thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý , Nghị định số 07/2007/NĐ-CP của Chính phủ và Chỉ thị số 35/2006/CT-TTg ngày 13/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ, Kế hoạch của Bộ Tư pháp, của UBND tỉnh về thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh. Tập trung kiện toàn tổ chức bộ máy Trung tâm trợ giúp pháp lý theo Thông tư  liên tịch số 08/2008/TTLT-BTP-BNV giữa Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ. Tham mưu giúp Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng chỉ đạo thực hiện tốt các nội dung hoạt động TGPL trong tố tụng. Phối hợp với Hội Liên hiệp phụ nữ , Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Hội Luật gia tỉnh thực hiện tốt các nội dung TGPL theo các chương trình phối hợp đã ký kết.

3.2. Thực hiện có hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý tại trụ sở cũng như lưu động. Năm 2009, Trung tâm trợ giúp pháp lý tổ chức trợ giúp lưu động mỗi tháng từ  6- 8 đợt, mỗi chi nhánh TGPL tổ chức trợ giúp lưu động mỗi tháng từ 3-4 đợt, kết hợp trợ giúp pháp lý với hoạt động PBGDPL và hoà giải ở cơ  sở.

3.3.  Tăng cường hoạt động tư vấn, đại diện bào chữa theo yêu cầu của các đối tượng được hưởng chính sách trợ giúp pháp lý miễn phí, bảo đảm việc trợ giúp được thực hiện kịp thời, chính xác và đúng pháp luật, trong đó mỗi trợ giúp viên pháp lý phải tham gia TGPL trong tố tụng ít nhất 03 việc/ năm.

3.4. Thực hiện tốt Dự án “ Hỗ trợ hệ thống TGPl ở Việt nam, giai đoạn 2005-2009 ”; công tác trợ giúp pháp lý theo chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và chương trình 135 giai đoạn II tại các xã đặc biệt khó khăn. Tập trung chỉ đạo, hướng dẫn các câu lạc bộ TGPL hoạt động có hiệu quả.

4. Tăng cường công tác quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự ( THADS )

Tăng cường công tác quản lý nhà nước nhằm đảm bảo hiệu quả và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác thi hành án dân sự. Năm 2009, công tác thi hành án dân sự tập trung vào những nhiệm vụ chính sau:        

4.1. Tham mưu cho UBND tỉnh triển khai thực hiện Luật THADS và Nghị quyết của Quốc hội về thi hành Luật THADS, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác THADS trên địa bàn tỉnh. Các cơ quan thi hành án dân sự  tiếp tục thực hiện kế hoạch số 2103/KH-UBND ngày 12/8/2008 của UBND tỉnh triển khai thực hiện Chỉ thị số 21/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự; phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện Kế hoạch liên ngành về xét miễn, giảm án phí, tiền phạt trong thi hành án dân sự.

4. 2. Các cơ quan thi hành án dân sự chủ động tham mưu cho Ban chỉ đạo thi hành án những giải pháp tích cực nhằm phát huy vai trò tổ chức, chỉ đạo công tác thi hành án dân sự ở địa phương; tổ chức 02 đợt thi hành án tập trung, thi hành dứt điểm các vụ việc có điều kiện thi hành nhưng còn tồn đọng do có vướng mắc hoặc khiếu nại  kéo dài, phấn đấu giảm từ 10 đến 15% số lượng án tồn đọng. Tập trung giải quyết có kết quả các khiếu nại, tố cáo liên quan đến hoạt động thi hành án dân sự.

4.3. Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan Thi hành án theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp, thực hiện luân chuyển cán bộ, chấp hành viên thi hành án cấp huyện theo kế hoạch; chú trọng giáo dục phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, chấp hành viên các cơ quan Thi hành án dân sự, kiên quyết xử lý nghiêm minh những sai phạm trong hoạt động thi hành án và đưa ra khỏi ngành những cán bộ không đủ năng lực, phẩm chất, đạo đức của người cán bộ Thi hành án. Chuẩn bị các nội dung chuyển giao việc quản lý một số mặt công tác tổ chức cán bộ của cơ quan thi hành án dân sự  sang cho Trưởng THADS tỉnh quản lý theo quy định của Luật THADS.

4. 4. Năm 2009, các cơ quan thi hành án tập trung  phấn đấu thi hành xong 80% về việc, 60% về tiền trở lên trong số vụ việc có điều kiện thi hành nhằm làm chuyển biến căn bản công tác thi hành án dân sự  ở địa phương. Tiến hành rà soát, đề nghị miễn thi hành các khoản thu cho ngân sách nhà nước có giá trị không quá 500.000đ mà thời gian tổ chức thi hành đã quá 05 năm tính đến ngày 01/7/2009 nhưng không có điều kiện thi hành.

5. Hướng mạnh công tác tư pháp về cơ sở để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực hành chính tư pháp và bổ trợ tư pháp

Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ công tác tư pháp cơ sở. Sở tiến hành kiểm tra toàn diện công tác tư  pháp tại 03 huyện và 06- 09 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh, đồng thời tập trung thực hiện tốt các nội dung sau:

5.1. Tham mưu cho UBND tỉnh triển khai thực hiện Luật Quốc tịch Việt Nam ( sửa đổi ); tiến hành sơ kết 02 năm thực hiện Luật Công chứng và đề xuất phương án chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất từ  UBND sang cho các Phòng Công chứng trên địa bàn tỉnh.

5. 2. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính theo cơ chế một cửa và một cửa liên thông, đơn giản hoá các thủ tục giải quyết công việc trong hoạt động hành chính tư pháp, hoạt động công chứng, chứng thực. Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ về đăng ký, quản lý hộ tịch, chứng thực trên địa bàn. Năm 2009, Sở tổ chức kiểm tra tại 05 huyện và 20 xã, phường, thị trấn về công tác này, Phòng Tư pháp các huyện, thành phố kiểm tra 60% số xã, phường, thị trấn về hoạt động chứng thực, quản lý, đăng ký hộ tịch.

 5.3. Triển khai Đề án phát triển hành nghề tổ chức công chứng trên địa bàn tỉnh đến năm 2015 và 2020 sau khi được UBND tỉnh phê duyệt; chỉ đạo, hướng dẫn việc thu, quản lý, sử dụng lệ phí chứng thực theo Nghị quyết của HĐND tỉnh sau khi được ban hành.

5.4. Tiếp tục tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, tư  vấn pháp luật, giám định tư pháp. Chỉ đạo Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư tăng cường giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho các luật sư, quản lý chặt chẽ hoạt động của các Văn phòng luật sư, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những biểu hiện tiêu cực trong hoạt động luật sư, tư  vấn pháp luật.

5. 5. Kiện toàn tổ chức Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản và đẩy mạnh hiệu quả hoạt động bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật, phấn đấu năm 2009 tổng thu tiền bán đấu giá tài sản trên 6 tỷ đồng.

II. CÁC NHIỆM VỤ THƯỜNG XUYÊN CẦN TĂNG CƯỜNG

1. Tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức ngành Tư pháp; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ ngành Tư pháp trong sạch, vững mạnh

1.1. Phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu cho UBND tỉnh triển khai thực hiện Thông tư  liên tịch hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức cơ quan tư pháp ở địa phương ( thay thế Thông tư liên tịch số  04/2005/TTLT-BTP-BNV giữa Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ ).

1.2. Tiến hành rà soát, sửa đổi Quy chế làm việc của Sở  và kiện toàn các phòng, đơn vị trực thuộc cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ mới được tăng cường. Thực hiện việc điều động, bố trí sắp xếp lại tổ chức cán bộ các đơn vị nhằm phát huy năng lực, sở trường của  từng cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện công tác luân chuyển cán bộ đối với một số lĩnh vực theo quy định.

1.3. Phối hợp với các cơ quan hữu quan củng cố, kiện toàn các tổ chức pháp chế ngành, tổ chức giám định tư pháp. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên môn, năng lực quản lý, điều hành cho đội ngũ cán bộ quản lý. Triển khai Đề án “ Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Tư pháp- Hộ tịch cấp xã ” sau khi được UBND tỉnh thông qua.

Phòng Tư pháp các huyện, thành phố tham mưu cho UBND cùng cấp  củng cố, kiện toàn tổ chức theo hướng dẫn liên tịch giữa Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ, phối hợp với UBND cấp xã kiện toàn tổ chức, tuyển dụng cán bộ Tư pháp- Hộ tịch chuyên trách đủ tiêu chuẩn công chức cấp xã.

1.4. Tiếp tục thực hiện quy hoạch cán bộ, lựa chọn cán bộ, công chức có năng lực chuyên môn vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt để đưa vào quy hoạch các chức danh quản lý cũng như các chức danh Tư pháp.  Thực hiện tốt công tác tuyển dụng và sử dụng cán bộ.

  1.5. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra trách nhiệm công vụ, việc chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp, sớm phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, tiêu cực, sách nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân; thực hiện tốt Quy chế văn hoá công sở.

1.6. Đẩy mạnh việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kiên quyết chống tham nhũng. Siết chặt kỷ cương hành chính, kỷ luật lao động; cải tiến lề lối,tác phong  làm việc. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh” trong toàn ngành.

1.7. Tạo sự chuyển biến rõ nét trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tư  pháp từ  tỉnh đến cơ sở về chất lượng, hiệu quả công tác và trau dồi phẩm chất đạo đức, trước mắt  là cán bộ quản lý, cán bộ có chức danh tư pháp, cán bộ trực tiếp giải quyết công việc của dân.

2. Chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu  nại, tố cáo của công dân

2.1. Thực hiện tốt Nghị định số 74/NĐ-CP ngày 01/8/2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra tư  pháp. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách pháp luật, thực thi nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị thuộc sự  quản lý của ngành Tư pháp. Tổ chức thạnh tra công tác đăng ký, quản lý hộ tịch, công tác chứng thực tại 03 huyện: Yên Thế, Hiệp Hoà, Yên Dũng, mỗi đơn vị thực hiện ít nhất tại 04 xã; thanh tra hoạt động của Văn phòng luật sư Dương Minh Nhâm, Trung tâm tư  vấn pháp luật thuộc Hội luật gia tỉnh; thanh tra công tác phòng, chống tham nhũng tại Phòng Công chứng số 2.

2.2. Tăng cường công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo. Thanh tra Sở tiếp dân mỗi tuần 2 ngày, các đơn vị chuyên môn tiếp dân thường xuyên hàng ngày. Thủ trưởng các đơn vị nêu cao trách nhiệm trong việc tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân với tinh thần tận tuỵ phục vụ nhân dân; giải quyết nhanh, gọn, dứt điểm đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân thuộc thẩm quyền.

 3. Tiếp tục  đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành

3.1. Đổi mới việc xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện nhiệm vụ      công tác tư pháp của ngành, đảm bảo tính khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, bám sát các nhiệm vụ trọng tâm của ngành và nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của địa phương. Chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể việc thực hiện nhiệm vụ ngay từ  đầu năm, đảm bảo thực hiện đồng bộ và có hiệu quả nội dung kế hoạch công tác năm 2009.

3.2. Tiếp tục đổi mới phương pháp, lề lối làm việc, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác. Tăng cường công tác kiểm tra, chỉ đạo hoạt động tư pháp theo phương châm hướng mạnh công tác tư pháp về cơ sở; đổi mới phương pháp chỉ đạo, điều hành theo hướng sâu sát, cụ thể, quyết liệt.

3.3. Phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền các cấp, các cơ quan hữu quan nhằm tranh thủ sự ủng hộ và hỗ trợ tích cực cho hoạt động của Ngành. Năm 2009, lãnh đạo Sở Tư pháp tiếp tục làm việc với cấp uỷ, chính quyền trong việc đẩy mạnh hoạt động và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác tư pháp; các phòng chuyên môn thuộc Sở thường xuyên kiểm tra hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ tư  pháp cơ sở. Lãnh đạo Phòng Tư pháp kiểm tra toàn diện công tác tư pháp tại mỗi xã, phường, thị trấn ít nhất 01 lần trong năm.

3.4. Thực hiện nghiêm túc Quy chế hội họp; đổi mới và nâng cao chất lượng các cuộc giao ban lãnh đạo Sở hằng tuần, giao ban Sở hàng tháng và việc sơ, tổng kết, với tinh thần dân chủ, xây dựng, thảo luận và đề ra các biện pháp hiệu quả nhằm thực hiện tốt những nhiệm vụ kế hoạch công tác. Thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo, thống kê; số liệu báo cáo phải đầy đủ, chính xác, nội dung báo cáo cần đi sâu phân tích, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ, đề xuất giải pháp thực hiện. Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc khai thác, cung cấp, cập nhật và sử dụng thông tin phục vụ hoạt động chỉ đạo, điều hành.

3.5. Nâng cao vai trò, năng lực hoạt động của Văn phòng và cơ quan, tổ chức giúp việc để thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu tổng hợp, kịp thời đề xuất những biện pháp tích cực, hiệu quả phục vụ hoạt động quản lý, chỉ đạo, điều hành.

3.6. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị tích cực phối hợp và tạo điều kiện cho chi bộ Đảng, các tổ chức chính trị- xã hội trong cơ quan, Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ hoạt động có hiệu quả, góp phần tích cực vào việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của ngành./.

Hoàng Giang - Sở Tư pháp Bắc Giang