Bắc Giang: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn

03/12/2008
Thực hiện Thông tư số 04/2005/TTLT-TP-NV liên tịch giữa Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp ngày 05/05/2005 hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức các cơ quan chuyên môn tư pháp ở địa phương, Sở Tư pháp đã phối hợp với UBND các huyện, thành phố chỉ đạo việc củng cố, kiện toàn Ban Tư pháp theo chức năng, nhiệm vụ mới.

Trước yêu cầu quản lý Nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ ở cơ sở, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, phạm vi hoạt động của cán bộ tư pháp cấp xã ngày càng tăng cường, đòi hỏi đội ngũ cán bộ chuyên trách tư pháp cấp xã phải có đủ về số lượng cần thiết và đủ trình độ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tính đến tháng 8/2008, 229 Ban Tư pháp ở các xã, phường, thị trấn đã được củng cố, kiện toàn hoặc thành lập mới (nơi trước đây chưa có Ban Tư pháp), trưởng Ban Tư pháp do Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn đảm nhiệm, một cán bộ tư pháp chuyên trách, các thành viên là đại diện các đoàn thể và một số công chức xã như: văn phòng, địa chính, công an vv… Toàn tỉnh, hiện có 240 cán bộ Tư pháp chuyên trách, bảo đảm mỗi xã, phường, thị trấn có 1 đến 2 cán bộ Tư pháp, trong đó, 41 cán bộ có trình độ Đại học Luật chiếm 13 %, 95 cán bộ có trình độ trung cấp luật và tương đương chiếm 40%, 44 cán bộ đang học lớp trung cấp luật do trường Đại học Luật Hà Nội mở tại Bắc Giang và 10 cán bộ chưa qua đào tạo. Cán bộ Tư pháp cấp xã tuyển dụng theo chuẩn đến nay có 142 người, thiếu 87 người chưa đạt tiêu chuẩn chức danh.

          Với sự quan tâm của cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương, những năm qua Ban Tư pháp xã, phường, thị trấn đã tích cực triển khai và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm liên quan đến tổ chức và công dân như: quản lý, đăng ký hộ tịch, chứng thực, hoà giải ở cơ sở vv… Hàng tháng, bình quân mỗi một cán bộ Tư pháp - Hộ tịch thực hiện 40 vụ việc về hộ tịch, hơn 100 vụ việc về chứng thực và hàng chục vụ việc về hoà giải, phổ biến giáo dục pháp luật, văn bản pháp quy… Hoạt động của BanTư pháp xã, phường, thị trấn đã đóng góp tích cực vào việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, xã hội, an ninh trật tự ở địa phương.  

Bên cạnh những kết quả đạt được, tổ chức và hoạt động của Ban Tư pháp xã, phường, thị trấn còn bộc lộ những hạn chế nhất định, đó là:

Chưa thường xuyên chủ động tham mưu cho cấp uỷ và chính quyền xây dựng chương trình, kế hoạch công tác hàng năm, hàng quý. Một số chương trình, kế hoạch công tác mang tính chuyên đề đối với các lĩnh vực trọng tâm chưa triển khai hoặc triển khai nhưng tiến độ chậm, hiệu quả kém.

Công tác văn bản pháp quy còn nhiều hạn chế. Văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính ban hành ra tỷ lệ sai sót rất lớn. Có nhiều xã, thị trấn tỷ lệ sai sót đến 80%. Đặc biệt có một số văn bản ban hành sai thẩm quyền hoặc tính khả thi không cao.

Công tác phổ biến giáo dục pháp luật một số xã còn "bỏ ngỏ". Một số mô hình thí điểm về áp dụng các hình thức phổ biến giáo dục pháp luật có tác dụng tốt như: Hoạt động của các câu lạc bộ pháp luật, khai thác tủ sách pháp luật vv…tuy triển khai ban đầu rất tốt nhưng sau đó không phát huy được tác dụng, hiệu quả không đạt như mong muốn.

Công tác trợ giúp pháp lý, hoà giải, hỗ trợ thi hành án dân sự ngành Tư pháp chú trọng chỉ đạo quyết liệt nhưng chất lượng các mặt công tác này triển khai và tổ chức thực hiện đạt kết quả thấp. Việc phối hợp với Trung tâm trợ giúp pháp lý của tỉnh để tổ chức các đợt trợ giúp lưu động về thôn, bản chưa  tiến hành thường xuyên, kịp thời; án chuyển giao về cho cấp xã đôn đốc thi hành nhiều xã đạt tỷ lệ thấp.

          Các mặt công tác có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của người dân và tổ chức như: Chứng thực, quản lý, đăng ký hộ tịch...  Sự quá tải về công việc đã dẫn đến chất lượng công tác hạn chế. Qua thanh tra, kiểm tra cho thấy tình trạng sai phạm ở hai lĩnh vực công tác này còn rất nhiều.

  Nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại, hạn chế của công tác Tư pháp cấp xã là:

Thứ nhất: Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng và chính quyền cấp xã đối với công tác Tư pháp ở cơ sở chưa được đặt ngang tầm với đòi hỏi yêu cầu thực hiện nhiệm vụ hiện nay, nhất là trong giai đoạn chúng ta đang thực hiện mạnh mẽ đổi mới đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách hành chính, cải cách Tư pháp.

Thứ hai: Ban Tư pháp chưa được củng cố kiện toàn một cách toàn diện: về công tác tổ chức cán bộ, đào tạo kiến thức pháp luật, bồi dưỡng kỹ năng tác nghiệp cho cán bộ Tư pháp. Hiện nay, đội ngũ cán bộ tư pháp chuyên trách vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chất lượng. Bên cạnh đó, nhiệm vụ được giao rất lớn dẫn đến áp lực công việc luôn trong tình trạng quá tải, cán bộ Tư pháp phải lựa chọn công việc để thực hiện và chất lượng công việc không cao.

Thứ ba: Cơ sở vật chất, phương tiện, điều kiện làm việc của cán bộ Tư pháp xã, phường, thị trấn còn rất khó khăn. Nhiều nơi những phương tiện làm việc tối thiểu như: phòng làm việc, bàn ghế, tủ đựng tài liệu, lưu trữ sổ sách liên quan đến hoạt động tư pháp chưa được trang bị đầy đủ.Trong khi đó theo quy định của pháp luật những tài liệu, giấy tờ sổ sách về hộ tịch, chứng thực phải lưu trữ thời gian dài, nhất là giấy tờ, tài liệu, sổ sách có liên quan đến nhân thân của người dân. Kinh phí chi cho hoạt động nghiệp vụ hầu như không có. Do vậy rất khó khăn cho việc triển khai nhiệm vụ.

          Để nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Tư pháp xã, phường, thị trấn mục tiêu phấn đấu từ nay đến năm 2015 là tiếp tục củng cố kiện toàn Ban Tư pháp xã, phường, thị trấn tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về tổ chức cán bộ và đào tạo góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách Tư pháp, phục vụ cho sự nghiệp phát triển và đổi mới đất nước. Trong thời gian tới đề nghị tập trung làm tốt một số nhiệm vụ sau:

- Củng cố, kiện toàn, xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức hoạt động của Ban Tư pháp. Xây dựng Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Tư pháp nhằm đưa hoạt động vào nề nếp.

- Chú trọng công tác tuyển dụng cán bộ, đảm bảo mỗi xã có 2 cán bộ tư pháp chuyên trách và 100% đạt chuẩn từ trung cấp luật trở lên, trong đó cán bộ tư pháp ở phường, thị trấn và các xã đông dân cư 80% có trình độ đại học.

- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng tác nghiệp cho cán bộ tư pháp, bảo đảm tất cả các nhiệm vụ, lĩnh vực công tác đều được tổ chức bồi dưỡng, tập huấn hàng năm. Phấn đấu 100% cán bộ tư pháp đều được bồi dưỡng nghiệp vụ.

- Quan tâm  bố trí trụ sở, phương tiện, điều kiện làm việc  cho các xã, phường, thị trấn, nhất là các xã thuộc huyện miền núi, các xã vùng sâu, vùng xa. Phấn đấu đến năm 2015, 100% xã, phường, thị trấn có máy tính nối mạng để thực hiện quản lý thống nhất chuyên ngành bằng công nghệ thông tin.

- Các cấp uỷ đảng, chính quyền cần tập trung hơn nữa trong việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác Tư pháp ở cơ sở.

Hà Thanh Thuỷ - Sở Tư pháp Bắc Giang