10 năm qua thực hiện Pháp lệnh tổ chức, hoạt động hoà giải cơ sở và Quyết định 1067 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng, quản lý Tủ sách pháp luật, tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt nhiều thành tựu quan trọng. Dưới sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh các ngành, các cấp đã nhận thức rõ trách nhiệm của mình phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể để nâng cao chất lượng công tác hoà giải cơ sở và xây dựng tủ sách pháp luật phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.
Nhân dịp 10 năm tổng kết đã rút ra từ thực tiễn kinh nghiệm về công tác hoà giải ở cơ sở và vây dựng tủ sách pháp luật để giúp các ngành, các cấp tham khảo lựa chọn kinh nghiệm hay áp dụng phù hợp ở địa phương, cơ quan đơn vị nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng hoà giải cơ sở và tủ sách pháp luật trong thời gian tới.
Kinh nghiệm về công tác hoà giải cơ sở:
Kinh nghiệm về công tác chỉ đạo:Tổ hoà giải là một tổ chức tự quản của quần chúng ở cơ sở, thành viên tổ hoà giải tham gia hoạt động chủ yếu là sự tự giác nhiệt tình và ý thức trách nhiệm công dân.
Thực tiễn cho thấy ở nơi nào có sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của cấp uỷ Đảng, chính quyền có sự phối hợp tốt giữa cơ quan tư pháp, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên trong chỉ đạo thì ở đó công tác hoà giải có nhiều thuận lợi. Đó là những điều kiện giúp cho hoà giải viên tại tổ hoà giải phát huy tốt hơn vai trò, trách nhiệm của mình. Sự ủng hộ về tinh thần, định hướng chỉ đạo, giao trách nhiệm cụ thể, có kiểm tra, đôn đốc thường xuyên, hỗ trợ về kinh phí và các yếu tố khác…là những điều kiện giúp cho hoà giải viên hoạt động và tổ hoà giải phát huy tốt hơn vai trò, tác dụng của mình. Trong thời gian qua, kinh nghiệm này đã được cấp uỷ Đảng, HĐND, UBND tỉnh, huyện và một bộ phận lớn đơn vị cấp xã và các tổ chức chính trị đề cao. Các huyện, thị, thành làm tốt như: Vĩnh Yên, Tam Đảo, Lập Thạch, Bình Xuyên…
Kinh nghiệm về kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng hoà giải viên: Chất lượng hoà giải viên là một yếu tố quan trọng, quyết định đến chất lượng hoà giải ở cơ sở. Vì vậy khi lựa chọn bầu tổ viên, tổ trưởng tổ hoà giải phải là những người có đủ sức khoẻ, có uy tín trong nhân dân, am hiểu pháp luật, bản thân, gia đình luôn gương mẫu chấp hành thực hiện tốt pháp luật và các điều kiện khác theo quy định của pháp luật. Về cơ cấu số lượng tổ hoà giải nên theo mô hình thôn, tổ dân phố phù hợp với thực tế địa phương.
Định kỳ hàng năm tổ hoà giải phải được tập huấn nghiệp vụ hoà giải và các văn bản pháp luật, đặc biệt là các văn bản pháp luật mới liên quan đến hoà giải để cập nhật thông tin, được cung cấp tài liệu bảo đảm thận lợi cho hoạt động hoà giải.
Kinh nghiệm về phương pháp hoà giải: Khi áp dụng các quy định của pháp luật vào việc giải quyết tranh chấp, việc áp dụng phải linh hoạt. Vận dụng những phong tục tập quán tốt đẹp để các bên cân nhắc. Để làm tốt được việc này thì vai trò của các hoà giải viên rất quan trọng, phải là người hiểu biết pháp luật, có khả năng thuyết phục các bên lựa chọn cách giải quyết phù hợp nhất, đúng đắn nhất.
Kinh nghiệm về kết hợp hoà giải với công tác PBGDPL:Hoạt động hoà giải ở cơ sở có mối liên hệ chặt chẽ với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Là cầu nối đưa pháp luật đến với nhân dân. Muốn làm tốt hai việc này, mỗi hoà giải viên phải luôn tự học hỏi, nghiên cứu để tích luỹ cả kinh nghiệm hoà giải và kiến thức pháp luật. Từ đó, chủ động vận dụng cả lý và tình để hoà giải, nhằm đạt kết quả “thấu tình, đạt lý”. Bên cạnh đó, cần tìm hiểu thêm nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, các vùng phát sinh nhiều mâu thuẫn để gắn hoạt động hoà giải với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giúp người dân tự giác thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, phát huy quyền làm chủ ở cơ sở, đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Kinh nghiệm về tập huấn nghiệp vụ, đôn đốc kiểm tra, hướng dẫn hoà giải:Tập huấn nghiệp vụ hoà giải cơ sở là nội dung rất quan trọng đối với hoà giải viên. Mà tỉnh ta hiện nay cấp tỉnh, huyện, cơ sở mới tập huấn đến được các tổ trưởng tổ Hoà giải. Có rất ít các đơn vị cấp xã đã tổ chức tập huấn cho tổ viên tổ hoà giải, vì vậy chất lượng hoà giải ở một số đơn vị cơ sở chưa cao. Để làm tốt công tác tập huấn, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động hoà giải cơ sở thì ngành Tư pháp, đặc biệt là cán bộ Tư pháp cơ sở cần chủ động tham mưu tích cực hơn để UBND các cấp, phối hợp với các tổ chức đoàn thể nhân dân đầu tư kinh phí cho công tác này, phấn đấu 100% hoà giải viên được tập huấn về nghiệp vụ, kiến thức pháp luật liên quan đến hoà giải để nâng cao hơn nữa hoạt động hoà giải ở cơ sở. Bên cạnh công tác tập huấn, hướng dẫn hoà giải, công tác kiểm tra để nắm bắt hoạt động hoà giải cơ sở cũng hết sức quan trọng. Cần làm theo định kỳ 3 tháng, 6 tháng, 1 năm và theo dõi thường xuyên để nắm bắt ưu điểm, tồn tại khó khăn của hoạt động hoà giải để có giải pháp khắc phục tồn tại, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ hoà giải. Qua công tác kiểm tra theo dõi, phát hiện tổ hoà giải, hoà giải viên điển hình tiên tiến đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng theo quy định để khuyến khích phong trào hoà giải cơ sở phát triển, nhằm xã hội hoá hoạt động hoà giải, xây dựng khối đại đoàn kết, phong trào tự quản trong nhân dân, ngăn chặn đến mức thấp nhất các mâu thuẫn xích mích, vi phạm pháp luật nhỏ trong cộng đồng dân cư không trở thành những việc lớn phải để cơ quan Nhà nước giải quyết, đầu tư cho phát triển kinh tế ở địa phương.
Kinh nghiệm về quan hệ phối hợp trong công tác hoà giải : Ở cơ sở Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc đều có người tham gia làm Tổ trưởng, Tổ viên tổ hoà giải. Chính vì vậy, chính quyền các cấp cần phải phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể nhân dân cùng cấp để chỉ đạo đồng bộ, chặt chẽ, có nề nếp công tác hoà giải cơ sở. Có như vậy chất lượng tổ chức, kết quả hoà giải mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn ở từng cơ sở. Triển khai công tác hoà giải cần kết hợp chặt chẽ với các phong trào của các tổ chức đoàn thể nhân dân ở cơ sở. Cần phân loại đối tượng gây xích mích trong cộng đồng dân cư, vi phạm pháp luật nhỏ là thành viên của các tổ chức đoàn thể, để tổ hoà giải kết hợp với từng đoàn thể có thành viên vi phạm tham gia hoà giải, nhằm dập tắt ngay các mâu thuẫn nhỏ trong cộng đồng dân cư, không để phát triển thành mâu thuẫn lớn làm ảnh hưởng lớn xã hội.
Kinh nghiệm về công tác xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật:
Kinh nghiệm về công tác chỉ đạo: Dự án xây dựng tủ sách pháp luật được Chính phủ chỉ đạo triển khai năm 1998, nhằm hỗ trợ tích cực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuyển tải các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân. Vì vậy các cấp uỷ Đảng, chính quyền, nhất là ở cơ sở phải nhận thức đúng đắn vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng tủ sách pháp luật. Từ đó triển khai mới thuận lợi.
Việc chỉ đạo, xây dựng Tủ sách pháp luật phải được đặt trong tổng thể các biện pháp tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật và thực hiện dân chủ ở cơ sở sẽ góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật trong cán bộ và nhân dân, tạo điều kiện cho việc chấp hành pháp luật; giám sát thực thi pháp luật và chủ trương, chính sách, chế độ của Nhà nước.
Kinh nghiệm về quản lý, khai thác, sử dụng Tủ sách pháp luật:
Bộ Tư pháp đã có quy định mẫu về quản lý tủ sách pháp luật, ngành Tư pháp đã hướng dẫn xây dựng quy chế mẫu, đến nay hầu hết các xã, phường, thị trấn đều xây dựng được quy chế quản lý. Thực tế nhiều xã chưa thực hiện tốt tủ sách pháp luật thực sự là tủ sách không của riêng ai, để phục vụ chung cho cán bộ và nhân dân.
Sách pháp luật (bao gồm 4 bộ phận theo quy định của Chính phủ, trong đó có cả công báo do Văn phòng Chính phủ cấp) phải được mở số nhập, mở mượn sổ luân chuyển sách, để sách được sử dụng lâu dài phục vụ cho công tác PBGDPL. Các xã có phòng đọc cần xây dựng quy chế phòng đọc, lịch đọc, mượn sách để cán bộ, nhân dân bố trí thời gian đến tìm hiểu.
Tủ sách pháp luật cần được phân loại thành lĩnh vực, đánh số, dán nhãn, danh mục để tra cứu. Cán bộ quản lý tủ sách, cần phải nắm bắt nội dung của sách pháp luật, để hướng dẫn cán bộ, nhân dân khai thác nhanh, tránh mất nhiều thời gian, nhằm nâng cao chất lượng quản lý tủ sách pháp luật theo yêu cầu của Chính phủ và của tỉnh.
Phải xây dựng, thực hiện tốt quy chế quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật. Đảm bảo sử dụng Tủ sách có hiệu quả, tăng cường công tác rà soát, kiểm tra, thực hiện nghiêm chế độ thông tin báo cáo. Các cấp, các ngành cần phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể nhân dân để chỉ đạo, vận động cán bộ và nhân dân tìm hiểu sách pháp luật. Đồng thời sử dụng sách pháp luật có hiệu quả trong công tác PBGDPL.
Kinh nghiệm về rà soát, bổ sung sách pháp luật: Hàng năm cần có kế hoạch kiểm kê tủ sách pháp luật để phân loại sách cũ, văn bản hết hiệu lực lưu riêng tránh đưa vào sử dụng tuyên truyền các văn bản đã hết hiệu lực. Định kỳ, kiểm tra để bảo quản lâu dài. Cần bám sát chương trình xây dựng pháp luật của Trung ương và của tỉnh để có kế hoạch bổ sung sách pháp luật mới cho phù hợp. Cán bộ quản lý tủ sách pháp luật cần chủ động tham mưu với thủ trưởng cơ quan, đơn vị mình để mua bổ sung sách pháp luật phù hợp với yêu cầu, phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương và nhiệm vụ chính trị ngành, phù hợp với các đối tượng nghiên cứu tìm hiểu.
Kinh nghiệm phối hợp xây dựng, khai thác, quản lý Tủ sách pháp luật: Muốn tủ sách pháp luật thực sự có hiệu quả, các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể cần phối hợp chặt chẽ, tuyên truyền vai trò tầm quan trọng của tủ sách pháp luật để cán bộ, nhân dân tự nguyện tham gia tìm hiểu sách pháp luật có nề nếp. Ở cơ sở cần phát động duy trì các phong trào đọc sách pháp luật trong cán bộ và nhân dân, thông qua các hoạt động của Đảng, chính quyền, đoàn thể, sinh hoạt khu dân cư… Định kỳ luân chuyển sách pháp luật ra điểm văn hoá xã, nên đặt tủ sách pháp luật tại thư viện, phòng đọc, phòng tiếp dân để phục vụ nhân dân.
Đối với các cơ quan Nhà nước cần phát động phong trào tìm hiểu sách pháp luật qua các hoạt động đoàn thể quần chúng của cơ quan hoặc khai thác trên mạng Internet để phục vụ công tác chuyên môn và thực hiện tốt quyền nghĩa vụ của công dân.
Đối với các trường học cần xây dựng phong trào tìm hiểu sách pháp luật qua các hoạt động ngoại khoá, chính khoá, đặc biệt môn giáo dục công dân trong nhà trường. Để giáo viên và học sinh nắm bắt quyền nghĩa vụ của mình chấp hành thực hiện tốt, ngăn chặn tệ nạn xã hội trong trường học.
Kim Yến