Điểm tin báo chí sáng ngày 22 tháng 01 năm 2010

22/01/2010
Trong buổi sáng ngày 22/01/2010, một số báo chí đã có bài phản ánh những vấn đề lớn của đất nước và những vấn đề liên quan đến công tác tư pháp như sau:
I- THÔNG TIN VỀ NHỮNG SỰ KIỆN NỔI BẬT CỦA ĐẤT NƯỚC
1. Báo Nhân dân phản ánh: Bộ Y tế và Bảo hiểm xã hội Việt Nam ngày 21-1, rút kinh nghiệm sau 20 ngày thực hiện Luật Bảo hiểm y tế (BHYT) mới. Theo đó, sau một thời gian ngắn thực hiện quy định mới của Luật BHYT, tuy nảy sinh một số vướng mắc nhưng về cơ bản đã được cấp có thẩm quyền giải quyết.Thời gian tới, các vấn đề tập trung giải quyết là việc in đầy đủ các thông tin cho thẻ BHYT đối với học sinh và trẻ em dưới sáu tuổi; khẩn trương hướng dẫn cấp phát thẻ cho người dân; tuyên truyền về quy định mới của Luật BHYT và nhất là giải quyết việc cùng chi trả cho người nghèo.
Hiện Bộ Y tế đang đề xuất để Chính phủ có hướng sửa đổi hoạt động của quỹ 139 (Quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo) để giúp đỡ người nghèo khi khám chữa bệnh. Tuy nhiên, băn khoăn nhất hiện nay là nhóm đối tượng nghèo đã được ngân sách Nhà nước bao cấp 95% chi phí điều trị khi mua thẻ BHYT giờ lại bao cấp nốt 5%. Như vậy sẽ quay lại cảnh bao cấp, dẫn đến tình trạng ỷ lại, lệ thuộc vào ngân sách. Ngoài ra, một việc nữa cũng phải bàn là ngân sách Nhà nước được cấp có hạn, nếu quá đông người nghèo được hưởng sẽ không đủ chi phí.
2. Báo Hà Nội mới phản ánh: Tại cuộc họp tổng kết ngành mới đây, đại diện của Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) đã đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông (TT-TT) cho phép các doanh nghiệp (DN) cung cấp dịch vụ di động được kéo dài đầu số 09xxxxxxxx để phát triển thuê bao. Với đề nghị này, ngay sau đó đã được lãnh đạo Bộ TT-TT cho biết sẽ tiếp thu giao cho đơn vị tham mưu nghiên cứu, đề xuất, nếu khả thi...
Giải thích cho lý do xin kéo dài đầu số của mình, vị lãnh đạo Viettel cho biết, việc kéo dài đầu số 09x giúp Viettel và các DN khác có thêm số để phát triển các thuê bao, nhất là khi dịch vụ 3G với nhiều tiện ích sẽ thu hút khách hàng sử dụng. Đây không phải lần đầu tiên Viettel đề nghị kéo dài đầu số 09x từ 10 số lên 11 số, hơn 3 năm trước nhà mạng này đã đề xuất phương án xin Bộ cho phép kéo dài đầu số. Tuy nhiên, đề xuất này bị dư luận phản đối và lúc đó Bộ Bưu chính - Viễn thông (tên gọi trước của Bộ TT-TT) đã chọn phương án cấp thêm đầu số, mà không kéo dài đầu số. Ước tính, nếu kéo dài thêm các đầu số 09x, kho số sẽ có thêm gần 200 triệu sim.
Ngay sau khi có thông tin này, dư luận khách hàng đã bày tỏ sự phản đối. Nhiều ý kiến tỏ rõ quan điểm, lựa chọn phương án kéo dài đầu số là cách làm "đẩy" khó cho khách hàng? Vì không giống như đầu số cố định chỉ có từ 6-7 số, sau khi đổi số như hiện nay độ dài mới là 7-8 chữ số, nhìn chung là dễ nhớ và không quá khó khăn cho khách hàng. Hơn nữa, do nhu cầu cộng với các yếu tố khác như tiện lợi, giá cước… khách hàng ngày càng sử dụng di động nhiều hơn số cố định, do vậy nếu thực hiện đổi số di động thì mức độ gây phiền toái cho khách hàng lớn hơn rất nhiều so với đổi số cố định. Bên cạnh đó, số di động hiện được coi là tài sản cá nhân lưu giữ nhiều mối quan hệ với bạn bè, đồng nghiệp, kinh doanh và nếu thay đổi khách hàng sẽ lại phải mất thời gian để làm quen với các dữ liệu mới. Nhiều khách hàng thì bày tỏ sự bức xúc khi cho biết, họ phải bỏ tiền lên tới hàng chục triệu đồng, thậm chí tới trăm triệu đồng để mua sim đẹp, nếu Bộ TT-TT thông qua phương án kéo dài đầu số thì những chiếc sim của họ sẽ mất giá trị. Thực tế, các nhà mạng đã tổ chức đấu giá sim đẹp để gây quỹ hoặc ủng hộ từ thiện, số tiền thu được từ việc bán sim đẹp còn lên tới số tiền tỷ đồng. Chính nhà cung cấp Viettel có hẳn chương trình kinh doanh sim số đẹp với các mức giá theo quy định của họ. Vậy, khi đề xuất kéo dài dãy số, không rõ họ đã có ý tưởng "hoàn tiền" cho khách hàng đã mua sim đẹp trước đó?!
Theo số liệu của Bộ TT-TT, hết năm 2009 cả nước có 111 triệu thuê bao di động, trong đó các nhà mạng phát triển mới hơn 40 triệu thuê bao. Trong đó, Viettel phát triển mới 16 triệu, Mobifone và Vinaphone mỗi mạng có thêm hơn 10 triệu thuê bao... Tuy nhiên, trong kế hoạch năm 2010, cả 3 "đại gia" đều đặt chỉ tiêu phát triển mới giảm đi một nửa so với con số của năm 2009. Phân tích về xu hướng này, ông Phạm Ngọc Tú, Phó phòng Kinh doanh Công ty Vinaphone cho biết, thị trường viễn thông di động năm 2010 dự đoán là dần đi vào bão hòa và khả năng ngày càng ít thuê bao mới dùng di động. Hơn nữa, các nhà mạng sẽ không thực hiện chương trình tặng tiền cho thuê bao kích hoạt mới để phát triển ồ ạt như trước đây, bởi làm như vậy các DN cũng chịu thiệt hại như giảm lợi nhuận. Thêm vào đó, Bộ TT-TT cũng chuẩn bị ban hành quy định hạn chế việc khuyến mãi kiểu này… Đó là những lý do mà các nhà mạng năm nay chủ yếu đặt mục tiêu "giữ chân" khách hàng, thay vì đưa ra các "chiêu" khuyến mãi hút thuê bao như trước đây. Như vậy, căn cứ theo số thuê bao mà 3 nhà cung cấp dịch vụ chủ chốt trên thị trường đặt kế hoạch phát triển mới và các phân tích của chuyên gia thị trường di động, khó có khả năng "bùng nổ" về thuê bao như trước đó. Nếu Bộ cho phép kéo dài đầu số, các nhà mạng sẽ có gần 200 triệu sim nữa, không rõ lúc đó những chiếc sim mới này sẽ lại trôi nổi như thế nào?
3. Báo Tuổi trẻ phản ánh: Bộ Kế hoạch - đầu tư vừa trình thường trực Chính phủ đề án tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó đề nghị thành lập mới ủy ban cải cách phát triển hoặc Bộ Phát triển kinh tế.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông NGUYỄN ĐÌNH CUNG - viện phó Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM), đơn vị soạn thảo đề án - nói đề án có tên chính thức là “Tiếp tục đổi mới và đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2011-2020 theo hướng nâng cao năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế”. Theo ông Nguyễn Đình Cung, sau khi phân tích những bất cập của cơ cấu kinh tế hiện nay, trong nhiều giải pháp, ban soạn thảo có đề nghị thành lập Ủy ban Cải cách phát triển hoặc Bộ Phát triển kinh tế. Chúng tôi nghiêng về thành lập ủy ban nhưng đây phải là ủy ban thuộc Chính phủ, cao hơn cấp bộ, có quyền điều phối và yêu cầu các bộ báo cáo... Ủy ban nên do phó thủ tướng đứng đầu. Phương án thấp hơn là thành lập bộ thì bộ đó cũng thuộc Chính phủ và có quyền hạn tương đương với vai trò điều phối các bộ khác.
* CIEM vốn là cơ quan ủng hộ tinh gọn bộ máy hành chính. Thực tế nào khiến CIEM đưa ra đề xuất này?
- Việc đề xuất trên không phải bây giờ chúng tôi mới làm mà đã nói đến từ mấy năm trước. Tại sao? Lâu nay ta hay nói cần cải cách thể chế. Nhưng thể chế rất rộng, đột phá vào đâu? Chúng tôi cho rằng nên đột phá vào chất lượng chính sách kinh tế. Việc thành lập ủy ban hay bộ này là nhằm mục đích đó. Việc hoạch định chính sách lâu nay của VN là từng bộ ngành, địa phương làm, nó chia cắt, phân tán. Sáng kiến chính sách thường từ bộ, địa phương rồi do chính bộ, địa phương làm. Dù chủ quan hay khách quan, chính sách do bộ làm bao giờ cũng theo cách nhìn của bộ, ít tính tổng thể. Ngay nội dung đã thiếu sự phối hợp, thiếu tổng thể nên thực tiễn triển khai thường bị chia cắt, chính sách khó đồng bộ. Vì vậy, cần một cơ quan đầu mối, như một “bộ tổng tham mưu” về chính sách. Khi các bộ có đưa lên, ủy ban hay bộ này sẽ thẩm định hoặc họ sẽ ra đề bài, chỉ đạo về chính sách cho các bộ soạn thảo. Trước khi trình Chính phủ, hiện Bộ Tư pháp mới chỉ thẩm định về tính pháp lý, còn nội dung chính sách thì chưa có ai làm. Ủy ban Cải cách phát triển hay Bộ Phát triển kinh tế, theo chúng tôi, sẽ độc lập theo dõi việc thực thi chính sách, uốn nắn hay yêu cầu sửa đổi ngay với mục đích để các chính sách tập trung, vì lợi ích quốc gia chứ không phải vì riêng lĩnh vực, địa phương nào.
* Trước đã có đề xuất nhập Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch - đầu tư thành Bộ Kinh tế. Đề xuất mới sẽ tách nhập bộ nào?
- Nếu nhập lại thì vẫn là một bộ, bao giờ cũng có khuynh hướng lĩnh vực nên chúng tôi cho rằng lập một ủy ban mới sẽ tốt hơn. Ủy ban này sẽ không quản lý hành chính mà chỉ chuyên về chính sách, đảm bảo chất lượng cũng như việc thực thi chính sách. Thiết chế này không cần nhiều người, không phải tổ chức cấp sở ở địa phương mà chỉ cần người có chuyên môn, tâm huyết ở trung ương. Ban nghiên cứu Thủ tướng ngày xưa đã tham mưu tốt, dù chưa phải cơ quan trực thuộc Chính phủ.
* Nhưng ban soạn thảo có lường trước đề xuất này rất khó được chấp nhận?
- Kinh nghiệm các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc đều có thiết chế này. Hay Trung Quốc cũng có ủy ban cải cách. Các chuyên gia quốc tế am hiểu về Đông Á và Đông Nam Á khi vào VN cũng rất ngạc nhiên khi thấy VN không có cơ quan này. Vì thế số lượng chính sách, độ thường xuyên phải thay đổi các chính sách hay các luật mâu thuẫn nhau, hiệu quả thực thi kém... là hệ quả bình thường. Đặc biệt, các chuyên gia quốc tế cho rằng nếu thiếu cơ quan như thế sẽ khó có thể thực hiện được vai trò “Nhà nước thúc đẩy phát triển”, đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hóa.
* Đề án còn đề xuất thành lập Tổng cục Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tư nhân trong nước. Vì sao có đề xuất này?
- Đề xuất thành lập Tổng cục Hỗ trợ phát triển doanh nghiêp tư nhân trong nước của chúng tôi cũng xuất phát từ thể chế, lịch sử phát triển. Khu vực kinh tế tư nhân ngày càng đóng góp nhiều vào phát triển, dù gần đây ta có cải cách bao nhiêu, họ vẫn là khu vực kinh tế yếu thế, thậm chí “thấp cổ bé họng”. Các cơ quan quản lý hành chính, dù pháp luật quy định thế nào nhưng khi thực thi luôn ở thế “bề trên” của doanh nghiệp. Quan hệ đôi bên vì thế không thể bình đẳng. Cái này không phải do lỗi ai mà do lịch sử để lại. Vì vậy cần một đối trọng đủ mạnh, cũng trong nhà nước để bảo vệ khu vực tư nhân. Nếu được như thế, doanh nghiệp sẽ có niềm tin hơn khi phản ảnh khúc mắc thay vì phải phản ảnh với chính cơ quan tạo khúc mắc. Vai trò tòa án hành chính, hiệp hội còn chưa lớn nên để một tổng cục giải quyết với các cơ quan nhà nước khác những vướng mắc vốn rất lớn của doanh nghiệp tư nhân vẫn là cách làm nhanh gọn, hiệu quả nhất.
* Nhưng hiện đã có các hiệp hội, rồi cả cơ quan nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp tư nhân vẫn phải tự vận động. Tổng cục này có nên là cơ quan cung cấp và sống bằng dịch vụ công?
- Cơ quan này phải là cơ quan có quyền lực nhà nước thì mới có thể làm đối trọng, bảo vệ khu vực tư nhân. Hiện đã có Cục Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng cơ quan này vẫn yếu thế về chính trị. Tổng cục mới nên trực thuộc trực tiếp Chính phủ, như Tổng cục Du lịch trước đây. Họ có thể cung cấp các dịch vụ công để thật sự đeo đuổi việc hỗ trợ doanh nghiệp. Tổng cục này phải hoạt động theo hướng ở đâu có vướng mắc, ở đấy phải có cơ quan này. Như vướng mắc kê khai, nộp thuế, giấy phép... cơ quan này phải đứng ra giải quyết, hỗ trợ doanh nghiệp, rồi đề xuất chính sách.
Báo cũng phản ánh: Báo cáo phát triển VN (VDR) 2010 được Ngân hàng Thế giới (WB) giới thiệu sáng 21-1 tại Hà Nội. Các nội dung như cung cấp dịch vụ y tế - giáo dục, chống tham nhũng, sử dụng đất, quản lý nhân lực, giải quyết tranh chấp... là những khía cạnh cụ thể trong tổng thể bức tranh thể chế VN được báo cáo đưa ra.
Theo báo cáo, do tình trạng phân cấp không đồng đều khiến các cơ sở y tế tuyến trung ương và thành phố có thể huy động nhiều vốn để nâng cấp cơ sở vật chất so với tuyến huyện và vùng xa. Các bệnh viện có nguồn thu lớn nên có thể tăng quỹ tiền lương mạnh tay hơn. Tại Hà Tây (cũ), sau một năm thực hiện chính sách tự chủ tài chính, 19/21 bệnh viện tăng lương cơ bản từ 1-20%, chỉ có hai bệnh viện lớn là Bệnh viện Đa khoa Hà Tây và Bệnh viện Ba Vì tăng 46-55%. Tuy VN đã phân cấp cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội tham gia cung cấp dịch vụ y tế và xã hội nhưng do bản chất đuổi theo lợi nhuận nên không phải lúc nào cũng có kết quả tốt. Ví dụ các cơ sở y tế tư nhân chỉ cung cấp dịch vụ dễ thu hồi vốn cũng như các xét nghiệm đắt tiền, các trường tư thu học phí rất cao so với trường công...
Báo cáo cho thấy lương của khu vực nhà nước vẫn cao hơn mức lương khu vực khác nhưng lương chỉ chiếm 30% trong tổng số lương, tiền thưởng và trợ cấp (lương thấp hơn “bổng”). Ngoài yếu tố về lương, khu vực nhà nước muốn giữ chân người có năng lực sẽ phải cạnh tranh với khu vực tư nhân về cơ hội phát huy khả năng, chế độ khen thưởng. Đây cũng là một lý do khiến năng lực cán bộ địa phương nhiều nơi vênh nhau, thể hiện ở chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh rất khác biệt, như nhận định của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đưa ra tại buổi công bố báo cáo. Báo cáo dẫn chứng kết quả từ điều tra mức sống gia đình năm 2008 cho thấy khoảng một nửa các hộ gia đình không biết thông tin gì về kế hoạch và ngân sách của xã. Phần đông người dân được hỏi cũng nói họ chưa từng đưa ra ý kiến gì về ngân sách và kế hoạch của xã, chủ yếu là họ không được hỏi ý kiến hoặc chỉ được biết thông tin về một vấn đề khi nó đã được quyết định.
II- NHỮNG THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC TƯ PHÁP
1. Báo Công an nhân dân có bài Bác kháng cáo kêu oan của nguyên Trưởng thi hành án huyện Thống Nhất. Bài báo phản ánh: Ngày 19/1, tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP HCM đã xử phúc thẩm lần 3 vụ "thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng" đối với bị cáo Đỗ Ngọc Chất (57 tuổi) - nguyên Trưởng thi hành án (THA) huyện Thống Nhất (nay là huyện Trảng Bom, Đồng Nai) và Phùng Văn San (56 tuổi) - nguyên chấp hành viên theo đơn kháng cáo của hai bị cáo này.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã bác đề nghị hủy án (vì cho rằng tài sản thiệt hại trong vụ án này chưa rõ) của vị đại diện Viện Kiểm sát tối cao giữ quyền công tố tại tòa, bác đơn kháng cáo "kêu oan" của bị cáo Chất, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo San... Theo đó tòa tuyên phạt Đỗ Ngọc Chất mức án 2 năm 6 tháng tù và Phùng Văn San 1 năm tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo. Theo nội dung vụ án, trong quá trình công tác từ năm 1994 đến 1998, các bị cáo Chất và San đã tổ chức THA dân sự đối với bà Phạm Thị Dung (ở xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom) và vợ chồng ông Nguyễn Sỹ Minh - Phạm Thị Huệ (xã Tây Hòa, huyện Trảng Bom) đã ra quyết định và tổ chức THA không đúng, không tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật dẫn tới hủy toàn bộ kết quả THA dân sự vụ việc này. Riêng vụ THA đối với bà Dung, TAND huyện Thống Nhất (nay là Trảng Bom) đã hủy một phần kết quả THA, làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan Nhà nước. Hậu quả của việc làm sai trái này khiến những người mua tài sản THA là bà Phạm Ngọc Hạnh và ông Nguyễn Văn Dĩ (mua nhà của bà Dung) bị thiệt hại vì bị thu hồi toàn bộ tài sản đã mua do THA sai...
Vụ án đến năm 2006, các bị cáo mới bị truy tố và xét xử nhưng sau đó hai lần bị tòa tối cao hủy án, trả hồ sơ yêu cầu cấp sơ thẩm điều tra xét xử lại từ đầu. Cuối tháng 7/2009, tại phiên tòa sơ thẩm lần 3, TAND tỉnh Đồng Nai đã tuyên phạt Chất mức án 2 năm 6 tháng tù và San 1 năm tù vì tội "thiếu trách nhiệm...", ngay sau đó 2 bị cáo đã làm đơn kháng cáo, trong đó Chất một mực kêu oan, còn San có đơn xin giảm nhẹ hình phạt hoặc án treo.
2. Báo An ninh Thủ đô phản ánh: Hôm qua 21-1, Thành ủy Hà Nội đã tổ chức hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân”. Xác định công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị, trong 5 năm qua (2005-2010), Thành ủy Hà Nội đã chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền tổ chức thực hiện tốt công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp với đặc điểm, tình hình đơn vị. Theo đó, hội đồng và ban công tác phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp đã chỉ đạo đơn vị cơ sở từng bước đổi mới phương pháp, hình thức tuyên truyền theo từng chủ đề, có trọng điểm, theo từng nhóm đối tượng, sinh hoạt của các câu lạc bộ được lồng ghép với nội dung tuyên truyền pháp luật trong các hoạt động sinh hoạt văn hóa văn nghệ, hội họp ở khu dân cư một cách sinh động, giúp người nghe dễ cảm nhận, tiếp thu, góp phần nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, pháp luật cho cán bộ và các tầng lớp nhân dân.
Đặc biệt hình thức tuyên truyền “Ngày pháp luật” đã được các cơ sở triển khai thực hiện sâu rộng. Hàng tháng, mỗi cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội… đã quy định thời gian hoặc lồng ghép vào các chương trình khác của cơ quan, đơn vị hợp lý để cho công chức, nhân viên trong cơ quan, đơn vị được học tập, nghiên cứu các văn bản pháp luật. Trong học tập, nghiên cứu các văn bản pháp luật, các đơn vị đều coi trọng đến các văn bản pháp luật có liên quan đến lĩnh vực được giao quản lý, chú ý tới các văn bản pháp luật có ảnh hưởng nhiều và trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của người dân; tổ chức trao đổi và rút kinh nghiệm trong việc vận dụng pháp luật giải quyết công việc hàng ngày. Qua đó đã hạn chế những sai sót trong thực thi công vụ, nâng cao ý thức chấp hành và tôn trọng pháp luật của cán bộ, công chức để người dân làm theo… Ghi nhận những đóng góp của tập thể và cá nhân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, UBND thành phố đã tặng Bằng khen cho 28 tập thể và 16 cá nhân có thành tích xuất sắc.
3. Trang web Diễn đàn doanh nghiệp có bài Thuế TNCN trong lĩnh vực BĐS: Ba chiêu...“lách” luật. Bài báo phản ánh: Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) không tránh khỏi vướng mắc phát sinh trong năm đầu triển khai. Đặc biệt, vấn đề thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản (BĐS), đến nay vẫn còn nhiều bất cập. Quy định của Luật Thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng BĐS là khá thông thoáng, góp phần làm thị trường BĐS sôi động. Nhưng trên thực tế thì không ít trường hợp đã lợi dụng sự thông thoáng này để lách luật, trốn thuế.
Luật Thuế TNCN quy định: Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất thì được miễn thuế; đồng thời người chuyển nhượng BĐS tự khai và chịu trách nhiệm về tính trung thực về kê khai của mình. Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống thông tin quản lý cá nhân của cơ quan quản lý nhà nước, trong đó có ngành thuế còn chưa đáp ứng; công tác kiểm tra, đối chiếu cần rất nhiều thời gian thì ít nhất trong vài năm đầu, cơ quan chức năng không thể kiểm soát được từng cá nhân có bao nhiêu nhà ở, đất ở. Đây chính là kẽ hở để không ít người có nhiều nhà ở, đất ở khi chuyển nhượng sẵn sàng kê khai là tài sản duy nhất để không phải nộp thuế. Hệ thống văn bản pháp luật thuế TNCN quy định giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giá thực tế ghi trên hợp đồng, tại thời điểm chuyển nhượng nhưng không thấp hơn giá đất do UBND tỉnh, TP quy định. Thực tế trên thị trường BĐS, giá đất mua bán thường cao hơn giá đất do UBND tỉnh, TP quy định. Nhưng vì lợi ích của cả người mua và người bán, nên họ thường thoả thuận ghi giá trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn thực tế. Và để được cơ quan nhà nước chấp nhận hồ sơ, họ chỉ ghi trên hợp đồng mức giá ngang hoặc cao hơn chút đỉnh so với giá UBND tỉnh, TP quy định. Như thế sẽ được nộp thuế thấp hơn số thực tế phải nộp. Kết quả là, cả đôi bên mua bán đất cùng có lợi, chỉ riêng Nhà nước chịu thất thu thuế.
Khoản 1 Điều 4 Luật Thuế TNCN quy định: “thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng, cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau” thì được miễn thuế TNCN. Lợi dụng quy định này, nhiều trường hợp đã sử dụng mối quan hệ bắc cầu để trốn thuế. Cụ thể, hai chị em dâu chuyển nhượng BĐS cho nhau là đối tượng phải nộp thuế. Nhưng để lách luật, người chị dâu làm thủ tục chuyển nhượng cho bố chồng, sau đó bố chồng lại chuyển nhượng tiếp cho người em dâu. Cả hai lần chuyển nhượng này đều thuộc đối tượng được miễn thuế. Thế là từ việc phải nộp thuế, hai chị em dâu chịu khó đi vòng, chuyển nhượng bắc cầu để tránh phải nộp thuế.
Về phía Nhà nước, phải xây dựng và quản lý hệ thống thông tin cá nhân đầy đủ toàn diện, trên cơ sở đó giữa ngành thuế và ngành tài nguyên - môi trường kết nối mạng thông tin thống nhất trên phạm vi toàn quốc để quản lý được việc sở hữu BĐS chi tiết của từng cá nhân. Từ đó, chống được sự man khai là tài sản duy nhất trong chuyển nhượng BĐS để được miễn thuế. Đối với UBND các tỉnh, TP để chống việc lách thuế qua việc ghi thấp giá trên hợp đồng chuyển nhượng thì việc xây dựng và ban hành giá nhà, đất hàng năm phải phù hợp và sát giá thực tế chuyển nhượng trên thị trường tự do. Riêng ngành thuế, phải tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến đạo lý của Luật Thuế TNCN đến mọi tầng lớp dân cư để giúp họ nắm và hiểu về các quy định, đồng thời bằng kinh nghiệm và kỹ năng quản lý chuyên sâu, phải chủ động đề xuất ngay các giải pháp ứng phó trong mọi tình huống.
4. Báo Nhân dân có bài Cần có quy định cho tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Bài báo phản ánh: Hiện nay có rất nhiều tổ chức nước ngoài đang hoạt động tại nước ta dưới nhiều hình thức và lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, việc thành lập và hoạt động của các tổ chức này chưa được quy định trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật mà được quy định tại các văn bản khác nhau tùy lĩnh vực cụ thể.Thí dụ, về lĩnh vực văn hóa và giáo dục được quy định tại Nghị định số 18/2001/NÐ-CP; lĩnh vực nghiên cứu, hợp tác về khoa học, công nghệ, tài nguyên, môi trường được điều chỉnh theo Nghị định số 06/2005/NÐ-CP; lĩnh vực du lịch, hoạt động văn phòng đại diện được quy định tại Nghị định số 92/2007/NÐ-CP; lĩnh vực thương mại có quy định về việc thành lập và hoạt động của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam tại Nghị định số 72/2006/NÐ-CP. Như vậy, việc thành lập và hoạt động của các tổ chức nước ngoài không phải là thương nhân tại Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực thương mại mà cụ thể là xúc tiến thương mại (XTTM) đến nay vẫn chưa được quy định tại bất kỳ văn bản pháp luật nào.
Theo Bộ Công thương, hiện nay có rất nhiều tổ chức nước ngoài hoạt động XTTM tại Việt Nam, có tổ chức đã hoạt động hơn chục năm. Do chưa có quy định pháp lý cụ thể về lĩnh vực này dẫn đến tình trạng các tổ chức nước ngoài khi thực hiện các hoạt động liên quan XTTM tại Việt Nam không đủ cơ sở pháp lý, gặp nhiều vướng mắc về trình tự, thủ tục hành chính khi thiết lập cơ sở cũng như trong quá trình hoạt động về sau. Công tác quản lý nhà nước cũng gặp khó khăn.
Vì vậy, cần thiết phải có các quy định pháp luật để điều chỉnh, quy định rõ việc thành lập và hoạt động của đối tượng là các tổ chức nước ngoài hoạt động XTTM tại Việt Nam để bảo đảm tính hiệu quả, sự thống nhất của công tác quản lý nhà nước; đồng thời tạo môi trường pháp lý rõ ràng, minh bạch để các tổ chức này hoạt động tại nước ta thuận lợi, đúng pháp luật. Ðây cũng là cơ sở để ngăn ngừa các tổ chức nước ngoài hoạt động không đúng mục đích đặt ra, phục vụ cho mục đích khác.
5. Báo Lao động có bài Quy luật và... luật. Bài báo phản ánh: Dự thảo Luật Thủ đô sẽ trình Quốc hội trong năm 2010 được xem như một công cụ pháp lý hỗ trợ chính quyền quản lý thủ đô tốt hơn, văn minh hơn. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ dự thảo luật này sẽ thấy còn những mâu thuẫn cần phải chỉnh sửa cho phù hợp. Một trong những nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng luật là các quy định của nó không được mâu thuẫn với Hiến pháp và các bộ luật khác. Sự thống nhất trong hệ thống luật pháp của một quốc gia không chỉ thể hiện trình độ xây dựng một nền văn minh pháp luật, mà còn tạo ra hiệu quả trong việc quản lý xã hội.
Dự thảo Luật Thủ đô sẽ trình Quốc hội trong năm 2010 được xem như một công cụ pháp lý hỗ trợ chính quyền quản lý thủ đô tốt hơn, văn minh hơn. Dù với bất cứ mục tiêu tích cực nào, thì bản thân nó cũng tôn trọng những nguyên tắc căn bản như đã nêu trên. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ dự thảo luật này sẽ thấy còn những mâu thuẫn cần phải chỉnh sửa cho phù hợp. Đơn cử như khoản 1, Điều 19 của dự thảo luật quy định muốn đăng ký thường trú ở thủ đô thì phải có điều  kiện tạm trú liên tục từ 5 năm trở lên. Trong khi đó, Luật Cư trú quy định để đăng ký thường trú ở thành phố thì công dân phải chứng minh đã tạm trú liên tục từ 1 năm trở lên. Một quy định khác của dự thảo Luật Thủ đô là người không thường trú hoặc tạm trú muốn làm việc tại thủ đô phải có giấy phép lao động do Sở LĐTBXH thành phố cấp. Quy định này sẽ tạo ra cơ chế xin – cho trong mối quan hệ Nhà nước – công dân, một “cơ chế” cần phải loại trừ trong tiến trình cải cách hành chính. Công dân muốn làm việc ở đâu, muốn làm nghề nghiệp gì là quyền của họ, miễn sao không vi phạm pháp luật.
Công dân Việt Nam, dù ở bất cứ địa phương nào trong nước, đến làm việc bất cứ nơi nào trong lãnh thổ quốc gia hoặc đi ra nước ngoài làm việc mà không vi phạm pháp luật thì Nhà nước cũng phải có trách nhiệm tạo điều kiện. Chưa kể, Nhà nước phải có trách nhiệm tạo ra việc làm để cho người dân có được việc làm. Trong trường hợp người dân tự tìm việc, dù là ở thủ đô hay bất cứ đâu thì cũng không nên gây khó khăn bằng thủ tục xin được cấp giấy phép lao động.
Các quy định chưa phù hợp của dự thảo Luật Cư trú còn tiềm ẩn một nguy cơ khác, đó là khó thực thi khi luật vận hành vào đời sống. Các quy định vừa kể ra không thể hạn chế lao động nhập cư, bởi vì người lao động về thành phố để tìm việc làm, kiếm kế sinh nhai là quy luật. Người dân không nhất thiết phải xin nhập hộ khẩu. Trên thế giới, nhiều quốc gia cũng đã và đang có những cách khác nhau để hạn chế người nhập cư ồ ạt về thủ đô. Tuy nhiên, mỗi quốc gia phải tuỳ điều kiện xã hội khác nhau mà có giải pháp phù hợp để vừa có thể thu hút người tài, vừa không ảnh hưởng đến quyền cư trú của công dân. Ở Việt Nam cũng vậy.


File đính kèm