Năm 2008, trên lĩnh vực hành chính tư pháp, Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng đã triển khai thực hiện Dự án cơ sở dữ liệu hộ tịch với mục tiêu xây dựng và triển khai các phần mềm quản lý hộ tịch tại UBND các xã, phường, quận, huyện và tại Sở Tư pháp;
Đây là hệ thống phần mềm phục vụ công tác hộ tịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm thiết lập một hệ thống thông tin liên kết, thống nhất giữa Sở Tư pháp và các đơn vị hành chính quận, huyện, xã, phường trong công tác quản lý hộ tịch, tạo điều kiện bước đầu cho người dân và các tổ chức tìm hiểu thông tin hộ tịch, hướng đến mục tiêu “thành phố điện tử” trong tương lai; Trong năm Sở cũng đã tổ chức kiểm tra các Văn phòng con nuôi nước ngoài đóng trên địa bàn thành phố. Qua kiểm tra cho thấy, hầu hết các Văn phòng chấp hành đúng quy định đã được ghi trong giấy phép hoạt động của Bộ Tư pháp; tổ chức tập huấn cho đội ngũ cán bộ tư pháp, xã, phường, quận, huyện về chứng thực và hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký hộ tịch, chứng thực cho các địa phương...
Năm 2008, Sở đã thụ lý giải quyết 238 trường hợp đăng ký kết hôn (giảm 19 trường hợp so với năm 2007), trong đó kết hôn với công dân đài Loan là 06 trường hợp (giảm 01 trường hợp so với năm 2007); giải quyết 94 trường hợp đăng ký giao nhận con nuôi (tăng 03 trường hợp so với năm trước); giải quyết 34 trường hợp đăng ký khai sinh; 12 trường hợp đăng ký khai tử; 83 trường hợp sao lục khai sinh, kết hôn (tăng 32 trường hợp); 16 trường hợp nhận cha, mẹ, con (giảm 8 trường hợp) và cấp 1.518 phiếu xác nhận lý lịch tư pháp (giảm 48 trường hợp).
Qua thụ lý, giải quyết hồ sơ, đã phát hiện 03 trường hợp đã có vợ chưa ly hôn nhưng vẫn tuyên thệ độc thân để đăng ký kết hôn, 03 trường hợp người Việt Nam định cư tại Canada ghép hồ sơ nhằm kết hôn với người thân, họ hàng của nhau để bảo lãnh xuất cảnh.
Các đơn vị cơ sở đã đăng ký sinh cho 15.112 trường hợp; đăng ký tử: 2.890 trường hợp; đăng ký kết hôn cho: 6.905 đôi và cải chính hộ tịch cho 525 trường hợp (so với năm 2007, các trường hợp đăng ký sinh tăng 1.835 trường hợp, đăng ký kết hôn tăng 716 trường hợp và khai tử tăng 168 trường hợp).
Trên lĩnh vực Hành chính tư pháp Sở tiếp tục duy trì thực hiện cải cách thủ tục hành chính, chú trọng việc hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ cho các Phòng Tư pháp quận, huyện; Việc giải quyết các hồ hơ kết hôn có yếu tố nước ngoài chặt chẽ, trong đó thực hiện nghiêm túc việc phỏng vấn các bên kết hôn, qua đó đã phát hiện, loại trừ được những trường hợp kết hôn không lành mạnh.
Cũng qua một năm hoạt động, Sở đã tổng hợp một số vướng mắc trong quá trình giải quyết hồ sơ và kiến nghị đề xuất với Bộ Tư pháp một số nội dung sau:
* Về đăng ký hộ tịch:
+ Về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài:
- Theo quy định tại Nghị định số 68/2002/NĐ-CP thì Sở Tư pháp chịu trách nhiệm trong việc thẩm tra hồ sơ trẻ. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy tình trạng trẻ em bị bỏ rơi khá phổ biến nhưng hồ sơ trẻ em bị bỏ rơi đã được Trung tâm nuôi dưỡng và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi trẻ bị bỏ rơi lập một thời gian khá lâu trước khi Trung tâm nộp hồ sơ trẻ (thường từ 5-12 tháng) nên việc xác minh nguồn gốc trẻ bỏ rơi gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, số lượng hồ sơ con nuôi ngày càng tăng trong khi số lượng biên chế cán bộ hộ tịch của phòng Hành chính tư pháp quá mỏng.
- Trong việc lập hồ sơ trẻ, các cơ sở nuôi dưỡng trẻ đóng một vai trò hết sức quan trọng. Hiện tượng trẻ em bị bỏ rơi tại cơ sở nuôi dưỡng là phổ biến và thường bỏ rơi vào ban đêm hoặc sáng sớm. Trong trường hợp này, cơ sở nuôi dưỡng là nơi đầu tiên phát hiện trẻ nên những dữ kiện ban đầu có liên quan đến trẻ là hết sức cần thiết giúp cơ quan tư pháp xác định nguồn gốc trẻ. Nhằm tránh tình trạng môi giới, thu gom trẻ cần phải có văn bản quy định các cơ sở nuôi dưỡng trẻ phải chịu trách nhiệm trong việc xác định nguồn gốc trẻ và hoàn tất các thủ tục có liên quan tới trẻ theo đúng quy định.
- Cục Con nuôi quốc tế yêu cầu giải trình về việc người phát hiện chậm làm giải trình về việc phát hiện trẻ bỏ rơi. Tuy nhiên, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định thời gian người phát hiện phải giải trình việc phát hiện.
- Hiện nay, Đơn xin nhận con nuôi được lập theo mẫu bằng tiếng Việt. Điều này gây khó khăn cho người nước ngoài khi điền các thông tin vào mẫu cho chính xác. Do vậy, Bộ Tư pháp cần thiết kế các loại biểu mẫu như: Đơn xin nhận con nuôi, Bản cam kết, giấy uỷ quyền … theo hướng song ngữ (vừa tiếng Việt vừa tiếng của nước cha, mẹ nuôi có quốc tịch) để tiện cho việc sử dụng.
- Đề nghị Bộ Tư pháp yêu cầu Nhà xuất bản Tư pháp cung cấp đầy đủ biểu mẫu hộ tịch nhằm tránh tình trạng khan hiếm biểu mẫu Giấy khai sinh và Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
+ Biểu mẫu hộ tịch và việc viết tay trên bản chính hộ tịch:
- Trong thời gian qua, Nhà xuất bản Tư pháp không cung cấp kịp thời biểu mẫu hộ tịch cho địa phương dẫn đến tình trạng khan hiếm biểu mẫu phục vụ nhân dân. Hiện nay, biểu mẫu hộ tịch ban hành kèm theo Thông tư 01/2008/TT-BTP ngày 02/6/2008 của Bộ Tư pháp chưa được Nhà xuất bản cung cấp kịp thời. Do vậy, hiện vẫn còn tồn đọng một số hồ sơ, nhất là hồ sơ ghi chú khai sinh, kết hôn đăng ký ở nước ngoài do không có biểu mẫu để cấp cho công dân.
- Đề nghị bỏ quy định cán bộ tự viết vào bản chính Giấy khai sinh trong Thông tư số 01/2008/TT-BTP, bởi lẽ quy định này không phù hợp thực tế hiện nay, gây tốn kém về thời gian, dễ nhầm lẫn, dễ tự ý sửa chữa và khó khăn trong công tác quản lý theo hệ thống tin học hoá.
+ Về nhận cha, mẹ, con:
- Điểm b, khoản 4, chương II, Thông tư số 01/2008/TT-BTP quy định: “Trường hợp con sinh ra trước ngày cha, mẹ đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận thì tên của người cha sẽ được ghi ngay trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của người con mà người cha không phải làm thủ tục nhận con”.
Việc quy định như trên không rõ ràng và gây khó khăn cho địa phương khi áp dụng thực tế, bởi lẽ: Thông tư không quy định việc cha, mẹ thừa nhận phải thể hiện bằng văn bản hay không. Mặt khác, trên thực tế có những trường hợp con đã lớn 5, 6 tuổi và địa phương nghi ngờ không phải con của người chồng mới kết hôn với mẹ của cháu bé nhưng người này vẫn thừa nhận là cha cháu bé. Do vậy, nếu căn cứ vào quy định này thì địa phương khó lòng từ chối giải quyết trong khi việc đăng ký nhận con đòi hỏi người này phải xuất trình chứng cứ chứng minh.
Do vậy, cần quy định việc thừa nhận là cha của trẻ phải lập thành văn bản, đồng thời giới hạn độ tuổi thừa nhận theo hình thức này là đến ngày cha, mẹ kết hôn trẻ em phải dưới 01 tuổi.
* Công tác quốc tịch, lý lịch tư pháp:
+ Công tác quốc tịch:
- Theo Công văn số 2395/BTP-HCTP ngày 21/4/2006 của Bộ Tư pháp, để bảo đảm cho việc cấp giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam chính xác thì Sở Tư pháp có Công văn đề nghị Bộ Tư pháp tra cứu Danh sách những trường hợp đã xin thôi quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế Bộ Tư pháp thường chậm trả lời việc tra cứu dẫn đến hồ sơ của công dân bị chậm trễ. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các Sở Tư pháp, đề nghị Bộ Tư pháp cập nhật danh sách những người đã thôi quốc tịch Việt Nam trên Websiter của Bộ để các Sở Tư pháp tự tra cứu và cấp giấy xác nhận cho công dân được thuận lợi, nhanh chóng.
- Hiện nay, Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng gặp khó khăn trong việc xác định quốc tịch của những người được Công an thành phố cấp Giấy chứng nhận thường trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Trước đây, những người này đã có Giấy khai sinh nhưng khai sinh không xác định quốc tịch ( mẫu Giấy khai sinh cũ không có cột quốc tịch). Cha có quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan), mẹ quốc tịch Việt Nam nhưng không có văn bản chọn quốc tịch cho con. Họ có đăng ký hộ khẩu nhưng sau đó công an đã xoá khẩu với lý do họ là người nước ngoài. Tuy nhiên, đến năm 1979 và năm 1997, họ đến Công an thành phố khai báo và được cấp Giấy chứng nhận thường trú của người nước ngoài tại Việt Nam với quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan). Nay họ có nhu cầu xin cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam. Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng đã có văn bản gửi kèm hồ sơ xin ý kiến Bộ Tư pháp về trường hợp này để xử lý cho công dân./.
Thu Hường