Điểm tin báo chí sáng ngày 25 tháng 6 năm 2013

25/06/2013
Trong ngày 24/6 và đầu giờ sáng ngày 25/6/2013, một số báo đã có bài phản ánh những thông tin nổi bật và thông tin liên quan đến công tác tư pháp như sau:
 

I-THÔNG TIN NỔI BẬT

Trang vtv.vn có bài Tổng hợp thiệt hại từ bão số 2. Bài báo đưa tin: Ảnh hưởng của cơn bão số 2 cùng triều cường dâng cao nhất trong năm đã gây thiệt hại lớn về hoa màu và tài sản của nhân dân thuộc các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An.

Theo số liệu của UBND tỉnh Thái Bình, lúc 18h hôm nay (24/6), khoảng 3.500 ha nuôi trồng thủy, hải sản ở hai huyện Thái Thụy và Tiền Hải đã bị ảnh hưởng nặng nề do bão. Nhiều hộ nuôi tôm bị mất trắng do triều cường dâng cao, các khu vực nuôi trồng thủy sản đã ngập chìm trong nước biển.

Thông tin từ Ban Chỉ huy PCLB tỉnh Nam Định cho biết, hơn 100m kè biển bảo vệ Khu du lịch Quất Lâm đã bị sập hoặc sạt lở do bão số 2, gần 400m đê sông bị sạt lở. Tỉnh Nam Định đang khẩn trương khắc phục các sự cố này. 

Tại khu vực biển Đồ Sơn, TP Hải Phòng, nhiều đoạn kè và đường giao thông bị vỡ. Nếu như một số cơn bão trước đây chỉ làm vỡ phần trên của thân kè, thì đây là cơn bão đầu tiên trong nhiều năm khiến nhiều đoạn kè bị vỡ toàn bộ.  

Ngoài hơn 400m kè bị vỡ, bão số 2 còn khiến hơn 2.000m2 hè đường dọc biển Đồ Sơn bị phá hủy hoàn toàn, hàng trăm cây xanh bị đổ. Bão cũng tạo ra một hố thụt lớn nhất kể từ năm 1971 đến nay ở khu vực trung tâm. Người dân nơi đây cho biết, dù bão không to so với nhiều lần trước, nhưng đổ bộ vào đúng lúc triều cường lên cao nhất trong năm nên đã tạo ra sóng lớn, gây áp lực mạnh. Bão cũng đã phá hủy một đoạn đường phía đông của Khu 2, Đồ Sơn, khiến giao thông khu vực này tê liệt, hiện vẫn chưa thể thông thương. Chính quyền quận Đồ Sơn cho biết, mặc dù rất chủ động và chuẩn bị kỹ lưỡng để đối phó với cơn bão, nhưng sức tàn phá của nó đã vượt quá khả năng phòng chống của hệ thống cơ sở hạ tầng, kỹ thuật trên địa bàn quận. Ước tính, thiệt hại ban đầu lên lên tới hơn 50 tỷ đồng.   

Tại Thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, khu vực K2+950 đê Hà Nam mái đê có hiện tượng sạt lở trên phạm vi dài khoảng 50m dọc thân đê. Ngay sau khi phát hiện, Thị xã đã huy động lực lượng tại chỗ dùng 5.000 bao tải cát gia cố đê. Bão cũng đã gây ảnh hưởng tới một số vùng ven biển của Thị xã Quảng Yên, đặc biệt là các vùng nuôi trồng thủy sản. Theo báo cáo chưa đầy đủ của các địa phương, ước tính thiệt hại do cơn bão số 2 gây ra tại Thị xã Quảng Yên trên 10 tỷ đồng. 

Còn tại Thị trấn Cô Tô, lúc 15h30 ngày 23/6 gió bão mạnh cấp 6, cấp 7 cộng với triều cường sóng biển đã làm sạt lở khoảng 7m chân cầu cảng đi xã Thanh Lân và 5m tường kè chắn sóng vào bãi rác Voòng Xi thuộc khu 1 thị trấn Cô Tô. Cũng vào thời điểm này, sóng biển dâng cao phá hủy 35m đường bê tông vào Đồn biên phòng ĐảoTrần.          

Theo báo cáo nhanh của Văn phòng thường trực Ban Chỉ huy PCLB và TKCN tỉnh Nghệ An, lượng mưa từ ngày 22-24/6 phổ biến từ 50-350mm, đặc biệt là tại các huyện Đô Lương, Cửa Hội, Hòn Ngư và thành phố Vinh. Đến sáng nay vẫn chưa tìm thấy 2 người mất tích do lũ quét cuốn trôi tại xã Nậm Càn, huyện Kỳ Sơn. Mặc dù các biện pháp tiêu úng đã được triển khai kịp thời, nhưng hiện tại vẫn còn hơn 3.500 ha lúa, hơn 200 ha rau màu và hơn 250 ha thủy sản bị ngập. Một số cầu tràn, tuyến đường khu vực miền núi đã bị sạt lở. 

II- THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC TƯ PHÁP

1. Báo điện tử Chính phủ đưa tin: Ban Cán sự đảng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đồng ý kéo dài thời gian giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Tài chính đối với ông Nguyễn Công Nghiệp và Thứ trưởng Bộ Tư pháp đối với ông Hoàng Thế Liên đến thời điểm đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định.

2. Báo Thanh niên Online có bài Kiểm tra nội dung phản ánh trên Báo Thanh Niên. Bài báo phản ánh: UBND TP.HCM vừa có văn bản gửi Giám đốc Sở Tư pháp về việc kiểm tra nội dung phản ánh trên Báo Thanh Niên ngày 21.6.

Theo đó, trên số báo này có bài “Một cửa” xong 3 thủ tục (của phóng viên Đình Phú và Thanh Đông), phản ánh vẫn còn nhiều phường, xã, thị trấn thuộc 5 huyện ngoại thành “vẫn nhiều e dè” với quy định mới; nhiều xã, thị trấn thực hiện chưa đúng theo thời gian quy định.

Vì thế, UBND TP yêu cầu Giám đốc Sở Tư pháp kiểm tra việc triển khai quyết định số 7/2013 (về ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa liên thông nhóm thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực hộ tịch, BHYT và đăng ký, quản lý cư trú trên địa bàn TP) tại 24 quận, huyện, phường-xã, thị trấn. Đồng thời, kiểm tra nội dung sự việc Báo Thanh Niên phản ánh, đề xuất biện pháp khắc phục khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện quy trình liên thông nhóm thủ tục hành chính này. Sở Tư pháp có trách nhiệm báo cáo UBND TP trong thời gian 5 ngày, kể từ ngày nhận văn bản.

3. Trang Tuanvietnam.vietnamnet.vn có bài Vật cản của cải cách hành chính. Bài báo phản ánh: Nếu cần phải cắt giảm thủ tục hành chính rườm rà để tăng tính hiệu quả và tiện lợi, giảm bớt những vật cản của quá trình CCHC, thì hoạt động công chứng cần được loại bỏ đầu tiên.

Từ lâu, người dân đã được nghe điệp khúc cải cách hành chính (CCHC), nhưng càng nghe, họ càng thấy điệp khúc này gần với giai điệu... hành là chính. Trong quá trình CCHC, những công cụ mới phải mang lại hiệu quả cao hơn và sự tiện lợi lớn cho công chúng - người sử dụng dịch vụ hành chính công. Bằng không chúng sẽ là vật cản của quá trình cải cách.

Những quan sát thực tế, những than phiền người dân ngày càng nhiều về hoạt động công chứng cho thấy nó là vật cản trong quá trình CCHC. Nếu cần phải cắt giảm thủ tục hành chính rườm rà để tăng tính hiệu quả và tiện lợi, giảm bớt những vật cản của quá trình CCHC, thì hoạt động công chứng cần được loại bỏ đầu tiên.

Một trong những hoạt động chính của nó hiện nay là "chứng nhận sao y bản chính" các giấy tờ - một việc đang gây nhiều phiền nhiễu cho người dân. Chứng nhận tình trạng "sao y bản chính" có nghĩa là đối chiếu để xác định bản sao trung thực về nội dung thông tin với bản chính. Thao tác của công chứng viên chủ yếu là nhìn xem hai bản như nhau không và chứng thực. Thế nhưng, thật oái oăm, họ không chấp nhận bản sao chụp không chụp bằng máy photocopy của văn phòng công chứng, cho dù chất lượng cao hơn hẳn bản chụp trên máy của họ? Vì sao? Không có câu trả lời nào có cơ sở khoa học hay tính thuyết phục mà chỉ có thể hiểu đó là sự bắt bí để thu tiền. Bản sao chụp nào trước khi có xác nhận "sao y bản chính" của công chứng cũng đều hoàn toàn như nhau về "tư cách". Họ thu tiền sao chụp cao hơn hẳn dịch vụ sao chụp bình thường từ bốn đến năm lần. Với mỗi người thì số tiền này không lớn nhưng tính cửa quyền, sự vô lý và sự bất bình mà nó mang lại cho người dân thì rất lớn. Đó là sự nhũng nhiều đầu tiên.

Khốn khổ cho người dân hơn nữa là nạn cò. Vì phải chầu chực, đi lại mất thời gian, người dân bị nạn móc túi. Bọn người này chẳng cần phải xếp hàng chờ đợi. Có tiền cho họ, chỉ "một loáng" là có kết quả ngay. Ai vội không thể thoát cạm bẫy này. Như thế, rõ ràng cán bộ công chứng đã thông đồng với để móc túi người dân bằng tiểu xảo cố tình kéo dài sự chờ đợi.

Trước khi có CCHC, việc chứng nhận sao y bản chính thường được làm tại UBND, văn bằng có thể được công chứng tại cơ sở đào tạo cấp văn bằng đó và họ chịu trách nhiệm trước pháp luật ...  Từ ngày "ca khúc" CCHC được tấu lên, văn phòng công chứng mọc lên như nấm khắp nơi. Không đâu có nhiều phòng công chứng như ở VN, tôi tin như thế. Người ta phải tin con dấu của công chứng hơn con dấu của UBND, của cơ sở đào tạo ...? Điều nữa, vì giấy tờ thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau và cả văn bản bằng nhiều tiếng nước ngoài, tuy nhiên, văn bản cần dịch giữa tiếng Việt và tiếng Anh vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất, đặc biệt văn bằng chứng chỉ ... Số người tham gia dịch cho công chứng hầu hết mới "chuyển tay lái" sang tiếng Anh. Cách làm của họ là tham khảo "mót" kiểu du kích một số mẫu giấy tờ, văn bằng ..., và biến chúng thành những "bản mẫu", rồi cứ thế là ... điền vào chỗ trống cho giấy tờ mới, tương tự như khai mẫu giấy tờ khác (form). Rất tiếc, giấy tờ hành chính và nhất là văn bằng của các nước rất khác nhau, kể cả giữa các nước nói tiếng Anh. Chính vì làm việc theo lối chắp vá, du kích như nên chuyện dịch sai, "râu ông nọ cắm cằm bà kia" là chuyện dễ hiểu.

Mọi công dân phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về độ xác thực của hồ sơ. Tại sao các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp, ... không ra một quy định đơn giản là để đương sự nộp bản sao. Khi cần chứng minh nội dung bản sao đó, đương sự chỉ cần xuất trình bản chính đến để đối chiếu. Thế là xong.

Thực tế những năm qua cho thấy có cán bộ sử dụng bằng giả trong hồ sơ. Họ có qua công chứng không? Nếu có, thì đó là một bằng chứng cho thấy công chứng không có tác dụng. Gần đây nhất, như trong vụ lừa đảo vay tiền bằng sổ đỏ ở Từ Liêm (Hà Nội), các giấy tờ đều được "ký có sự chứng kiến của công chứng" thế mà bao người dân vẫn bị lừa đảo. Vậy công chứng "chứng" cái gì và để làm gì? Nếu không có bản sổ đỏ "được công chứng", bọn lừa đảo không thể vay được ngân hàng vì người dân không giao sổ gốc cho những người kia. Giấy tờ có dấu quốc huy vẫn chưa đủ độ tin cậy thì ai tin vào dấu của công chứng? Có lẽ lại phải có cơ quan xác nhận dấu của công chứng là xác thực nữa thì mới được chăng? Trong quá trình CCHC, Nhà nước cần loại bỏ dần những giấy tờ bắt công chứng tiến tới bỏ hẳn dịch vụ công chứng?

Bộ Nội vụ thử làm một điều tra thống kê xem bao nhiêu người trong đội ngũ công chứng đông đảo như bây giờ là người thân của cán bộ trong ngành tư pháp. Họ đi đâu nếu bỏ dịch vụ công chứng? Họ lại về làm cán bộ của các Bộ, các ngành, ... chứ còn đi đâu! Biên chế "cán bộ Nhà nước" chỉ phình thêm ra.

Không bỏ được công chứng - một trong nhiều viên sỏi trong cỗ máy hành chính, không giảm bớt đội quân công chức khổng lồ kia, CCHC vẫn chỉ là bài ca "hành là chính" mà thôi?

4. Báo CAND Online có bài Khởi tố một chấp hành viên huyện Phú Quốc (Kiên Giang). Bài báo phản ánh: Ngày 23/6, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với Đặng Thị Lượng, 34 tuổi, trú tại thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; nguyên Chấp hành viên (CHV) Chi cục thi hành án dân sự (THADS) huyện Phú Quốc, theo đề nghị của Cơ quan điều tra của Viện này.

Theo tài liệu tố tụng: Ngày 29/3/2010, Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Kiên Giang đã xét xử phúc thẩm và ra bản án số 104/DSPT: Buộc ông Lê Văn Chiến, Lê Văn Thắng và bà Lê Thị Ngọc Ánh, trú tại xã Hàm Ninh, huyện Phú Quốc phải giao trả diện tích hơn 9.100m2 đất cho bà Phan Thị Muôn (cùng địa chỉ). Bản án phúc thẩm yêu cầu bà Ánh phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên phần đất trước khi giao cho bà Muôn. Tuy nhiên, trên diện tích đất này có nhiều cây ăn quả lâu năm do cha mẹ ông Thắng trước đây trồng để lại, trị giá hơn 88,5 triệu đồng không được Tòa đề cập đến.

Ngày 28/4/2010, Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện Phú Quốc ra quyết định thi hành án theo đơn đề nghị của bà Muôn, và giao cho CHV Đặng Thị Lượng thực hiện. Ngay hôm sau, CHV Lượng ra giấy báo tự nguyện thi hành án tống đạt cho ông Thắng, ông Chiến và bà Ánh, yêu cầu trong thời hạn 15 ngày phải tháo dỡ công trình trên đất để giao cho bà Muôn. Nhưng ông Thắng, ông Chiến, bà Ánh không tự nguyện thi hành, vì bản án không đề cập đến số cây ăn quả của gia đình ông Thắng.

Mặc dù gia đình ông Thắng liên tục khiếu nại về số cây ăn quả lâu năm không đề cập trong bản án phúc thẩm, nhưng CHV Lượng vẫn lên kế hoạch cưỡng chế tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng chuyển về cơ quan thi hành án. Song song với việc làm này, bà Muôn cũng thuê xe cuốc đào phá toàn bộ số cây ăn quả trong khuôn viên đất giao cho bà.

Việc CHV Lượng ra quyết định cưỡng chế trong khi bản án không đề cập đến gần 150 cây ăn trái nhiều loại có giá trị hơn 88,5 triệu đồng là thành quả lao động của cha mẹ ông Thắng là vi phạm pháp luật. Theo qui định của pháp luật thi hành án, khi bản án không đề cập tới số tài sản trên, thì CHV Lượng phải yêu cầu Tòa án đã ra bản án giải thích hoặc đề nghị TAND có thẩm quyền xem xét lại, nhưng CHV Lượng cố ý bỏ qua các qui định trên để cưỡng chế giao đất cho bà Muôn, gây thiệt hại đến tài sản của gia đình ông Thắng. Việc làm của CHV Lượng có dấu hiệu của tội "Ra quyết định trái pháp luật", phải bị xử lý để giáo dục và phòng ngừa chung.

5. Báo Công an thành phố Hồ Chí Minh có bài Bình Dương: Tòa đã tuyên, thi hành án làm ngơ. Bài báo phản ánh: Mặc dù chợ chưa xây xong nhưng ngày 22-4-2000, công ty thương mại xây dựng và phát triển nhà Đại Dũng (gọi tắt là công ty Đại Dũng, nay là công ty cổ phần phát triển nhà Tân Đại Dũng) thỏa thuận miệng với bà Âu Thị Nhung (SN 1958, ngụ số 2, đường lô A1, khu phố 3, phường Tam Bình, quận Thủ Đức, TPHCM) cho thuê hai sạp chợ là sạp số 1 và 93 tại chợ Dĩ An 2 (ấp Bình Đường, xã An Bình, huyện Dĩ An). Thỏa thuận xong, bà Nhung đóng 55 triệu đồng cho công ty Đại Dũng về tiền thuê sạp. Khi nhận tiền, công ty viết tắt vào góc giấy biên nhận là “15N”. Tháng 9-2001, bà Nhung và công ty Đại Dũng hoán đổi hai sạp chợ đã thuê thành ki ốt số 4. Cuối năm 2001, bà Nhung bắt đầu kinh doanh tại ki ốt này. Theo yêu cầu của công ty Đại Dũng, năm 2006, bà Nhung tiếp tục đóng thêm 15 triệu đồng tiền xây dựng, bà còn bỏ ra một triệu đồng để lát gạch ki ốt. Đang kinh doanh ngon lành thì công ty Đại Đũng yêu cầu bà Nhung ký hợp đồng thuê ki-ốt thời hạn năm năm với giá 30 triệu đồng, phải đặt cọc trước mười triệu đồng nhưng bà Nhung không chịu. Sau đó, Ban quản lý chợ Dĩ An 2 tiếp tục đề nghị bà Nhung ký hợp đồng thuê ki-ốt thời hạn năm năm; hai năm đầu giá 700.000 đồng/tháng, ba năm sau tính giá mới, bà Nhung không đồng ý.

Tháng 12-2006, Đại Dũng yêu cầu bà Nhung ký lại hợp đồng và muốn bà ký quỹ thêm mười triệu đồng nhưng, bà không đồng ý. Do không ký được hợp đồng, tháng 3-2007, công ty Đại Dũng cho người đến cắt ổ khóa ki-ốt của bà Nhung rồi cho người khác thuê. Bà Nhung làm đơn kiện công ty Đại Dũng buộc phải tiếp tục thực hiện hợp đồng đã thỏa thuận trước đây. Bà Nhung cho rằng: “Công ty Đại Dũng đã đồng ý cho tôi thuê sạp chợ thời hạn 15 năm nên đã ghi vào biên nhận tiền chữ số “15N”, công ty này phải thực hiện thỏa thuận đã lập”. Đại diện công ty Đại Dũng thì cho rằng: “Chữ số ghi bên trên tờ biên nhận tiền ngày 22-4-2000 là thời hạn của hợp đồng, nhưng chỉ ghi “5N” - tương đương với thời hạn là năm năm. Bà Nhung tự ý ghi thêm số “1” vào trước số “5N” để tăng thời gian thuê hợp đồng”. Tuy nhiên, đại diện công ty Đại Dũng không yêu cầu giám định chữ viết, cũng không cung cấp được chứng cứ nào xác dịnh chữ số “1” phía trước chữ số “5N” là do bà Nhung viết vào nên Tòa án nhân dân huyện Dĩ An cho rằng: “Có cơ sở để xác định thỏa thuận thuê ki-ốt mà các bên đã thỏa thuận bằng miệng là 15 năm, tính từ khi bà Nhung bắt đầu sử dụng là tháng 11-2001”.

Theo điều 136, Bộ luật Dân sự năm 1995, việc giao dịch miệng giữa công ty Đại Dũng và bà Nhung vô hiệu lực nên các bên phải trả cho nhau những gì đã nhận. Bên có lỗi phải bồi thường cho bên bị thiệt hại. Tòa án huyện Dĩ An buộc công ty Đại Dũng bồi thường cho bà Nhung 68.333.700 đồng. Kể từ ngày bên được THA có đơn yêu cầu THA đến khi THA xong, tất cả các khoản tiền phải THA, hàng tháng bên phải THA phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với số tiền và thời gian chưa THA. Mặc dù có quyết định của tòa án nhưng công ty Đại Dũng lại không thanh toán tiền cho bà Nhung. Bà đến Đội THA dân sự Dĩ An nhờ can thiệp. Ngày 28-11-2008, Đội THA dân sự Dĩ An có Quyết định 296/QĐ-THA, buộc công ty Đại Dũng trả tiền vốn lẫn lãi cho bà Nhung. Ông Trương Công Hân, chấp hành viên THA được giao tổ chức thi hành Quyết định này. Hơn bốn năm nay, bà Nhung nhiều lần liên hệ với ông Hân để được giải quyết nhưng ông Hân vẫn không thực hiện Quyết định của Tòa lẫn Đội THA Dĩ An. “Mỗi lần tôi đến yêu cầu THA thì ông Hân bảo: “Cứ về đi, chờ gom tài sản của công ty Đại Dũng”. Công ty Đại Dũng có tài sản lớn gấp nhiều lần so với số tiền buộc phải trả cho tôi, không có lý do gì chờ gom đủ mới trả. Hơn nữa, công ty Đại Dũng đã nhận tiền của tôi thì phải có nhiệm vụ trả lại cho tôi chứ tôi có buộc ông Hân trả cho tôi đâu mà ông ấy phải gom? Việc ông Hân không chịu thực hiện quyết định của tòa và của đội THA, gây thiệt hại nặng nề cho tôi”, bà Nhung bức xúc. Đề nghị chấp hành viên Đội THA, thị xã Dĩ An sớm thi hành quyết định đã ban hành để bảo vệ quyền lợi người dân.

6.  Báo điện tử Kiến thức có bài Mại dâm là nghề hợp pháp, quản lý sẽ nghiêm? Bài báo phản ánh: Dù mức xử phạt hành chính cho hành vi bán dâm nhẹ hay nặng, 100 nghìn hay một triệu, vài chục triệu đi nữa thì cũng không răn đe được bao nhiêu. Nhiều ý kiến cho rằng, hoạt động mại dâm hiện nay khó kiểm soát. Mại dâm hoạt động trá hình dưới nhiều hình thức: cà phê, karaoke, tầm quất… Việc bắt giữ, cải tạo gái mại dâm chẳng khác nào bắt cóc bỏ đĩa, bắt ở tụ điểm này lại xuất hiện ở tụ điểm khác. Có ý kiến cũng cho rằng chế tài xử lý hành vi môi giới, mua, bán dâm hiện nay ở nước ta là quá nhẹ nên chưa đủ sức răn đe...

Trước vấn đề khó kiểm soát nạn mại dâm, nhiều ý kiến đã cho rằng, nên coi mại dâm là một nghề hợp pháp để nhà nước quản lý và thu thuế. Bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều ý kiến tỏ ra băn khoăn. Chính vì thế, việc cấp thẻ hành nghề cho hoạt động mại dâm vẫn chưa được tiến hành dù đã có nhiều đề xuất trước đó.

 Theo đại biểu Đỗ Văn Đương, Ủy viên thường trực Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, nên xem xét công khai hóa việc mua dâm và xem nó như một hình thức được pháp luật thừa nhận. Việc hợp thức hóa mại dâm để dễ dàng quản lý, một mặt vừa có thể thu tiền về ngân sách cho Nhà nước, vừa bảo vệ cả người mua dâm và bán dâm khỏi bệnh tật.

Đại tá Hồ Sỹ Tiến, quyền Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra về Trật tự xã hội (C45 - Bộ Công an) đồng tình: Công nhận mại dâm như một nghề với những quy chế hoạt động đặc biệt, công khai hóa thì sẽ quản lý dễ hơn. Bởi nếu công khai mại dâm như một nghề thì Nhà nước sẽ thu được thuế, hoạt động giáo dục cũng như phòng ngừa bệnh lây lan qua đường tình dục cũng dễ dàng hơn. Và khi đó chúng ta chỉ chống những hành vi ngoài sự cho phép, lén lút ngoài những điều đã được quy định.



File đính kèm