Điểm tin báo chí các ngày 11, 12 tháng 5 và sáng ngày 13 tháng 5 năm 2013

13/05/2013
Trong các ngày từ 10 đến 12/5 và đầu giờ sáng ngày 13/5/2013, một số báo đã có bài phản ánh những thông tin liên quan đến công tác tư pháp như sau:
 

I- THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC TƯ PHÁP

1. Báo Hà Nội mới có bài Có cần sổ hộ tịch? Bài báo phản ánh: Bộ Tư pháp đã đề xuất Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội xem xét, thông qua Luật Hộ tịch tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII diễn ra vào cuối tháng 5 này.

Trong đó, Ban soạn thảo đưa vào quy định lập sổ hộ tịch cho công dân với mục đích lưu giữ tất cả các sự kiện hộ tịch phát sinh trong một đời người, giúp từng người gom thông tin cá nhân vào một mối thay vì phải giữ trong người những giấy tờ đơn lẻ. Như vậy, khi cần giao dịch, hay bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, người dân không cần mất thời gian truy lục các giấy tờ đang lưu giữ mà chỉ cần mang theo duy nhất sổ hộ tịch. Để không tốn kém thời gian, công sức, tiền bạc khi triển khai, Bộ Tư pháp chỉ đặt ra việc cấp sổ cho những người sinh ra sau ngày luật có hiệu lực, còn với 87 triệu dân số hiện tại, các loại giấy tờ hộ tịch vẫn giữ nguyên giá trị.

Trước đề xuất của Bộ Tư pháp, có ý kiến cho rằng, sự đổi mới này sẽ khắc phục triệt để hiện tượng tản mát dữ liệu hộ tịch như hiện nay. Nhưng đây có phải là giải pháp ưu việt?

Ai cũng biết, công tác hộ tịch lâu nay chỉ liên quan đến các nội dung: Khai sinh, đăng ký kết hôn, khai tử, giám hộ, nhận cha mẹ nuôi, xác định lại dân tộc, giới tính... Trên thực tế, hầu hết người dân chỉ cần lưu hai thứ chính: Khai sinh và kết hôn. Số rất ít là những người có nhu cầu giám hộ, nhận cha mẹ nuôi, xác định lại dân tộc, thay đổi giới tính. Nay gom tất cả dữ liệu vào một mối trong cuốn sổ "chỉ có vài ba trang" để làm khóa kết nối giấy tờ vừa không cần thiết, vừa có thể gây xáo trộn trong đời sống người dân. Triển khai theo hướng này còn có thêm phiền toái là khi công dân chỉ cần chứng minh một sự kiện nhỏ gì đó nhưng họ lại phải xuất trình tất cả thông tin trong sổ hộ tịch, dẫn đến lộ bí mật đời tư. Hoặc trường hợp bị mất sổ hộ tịch cá nhân, người dân cũng mất hết mọi thông tin về bản thân.

Mặt khác, nếu quy định này trong dự luật được thông qua, việc không cấp mới sổ hộ tịch cá nhân cho dân số hiện có sẽ khiến Nhà nước rất khó quản lý. Xã hội phát sinh thêm nhiều vấn đề khi tồn tại song song hai hệ thống sổ về hộ tịch, cùng một sự kiện hộ tịch nhưng mỗi công dân lại có những giấy tờ, hồ sơ khác nhau, thực hiện theo những quy trình, thủ tục khác nhau. Chưa dừng lại ở phiền toái này, việc triển khai sổ hộ tịch còn có nguy cơ gây tốn kém. Bởi về lâu dài, việc quản lý hộ tịch bằng giấy tờ không tránh khỏi rách, nát, hư hỏng.

Nên chăng, cần giữ nguyên các giấy tờ thiết yếu hiện hành để vừa bảo đảm công tác tra cứu vừa chống giả mạo, tạo thuận lợi cho người dân trong các giao dịch.

2. Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh có bài Bắt dân đóng quỹ mới được chứng thực hồ sơ. Bài báo phản ánh: Nhiều hộ dân ở phường Nhơn Hòa, thị xã An Nhơn (Bình Định) phản ánh: Gần đây, khi bà con đi làm các thủ tục hành chính thì UBND phường bắt buộc họ phải có giấy xác nhận của khu vực về việc đã thực hiện đầy đủ các khoản đóng góp cho địa phương. Sợ không được giải quyết hồ sơ, những người còn nợ tiền phải chạy đôn chạy đáo đã đành, ngay cả những người không nợ cũng phải kiếm lãnh đạo khu vực để xin giấy xác nhận.

Ông Trần Kim Thưởng, Phó Chủ tịch UBND phường Nhơn Hòa, cho biết: “Đúng là chúng tôi có đặt ra quy định trên để thực hiện tốt hơn việc thu các khoản đóng góp của người dân như quỹ đền ơn đáp nghĩa; quỹ quốc phòng - an ninh; tiền bê tông giao thông nông thôn. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ yêu cầu nộp giấy xác nhận đối với các hồ sơ xin việc làm. Riêng những thủ tục còn lại như khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn… xã đều giải quyết bình thường. Biết rằng đòi hỏi này không đúng pháp luật nhưng tại phường có một bộ phận lớn người dân cố tình chây ỳ, tìm cách né tránh việc đóng góp nên phường mới phải làm vậy”.

3. Trang Tinnong.vn có bài Nhức đầu với thời hạn của bản sao có chứng thực. Bài báo phản ánh: Hiện nay, nhiều người dân khốn đốn với các yêu cầu về thời hạn của bản sao có chứng thực các loại giấy tờ tùy thân, giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản…

Ngày 1.5, gia đình chị Phạm Tuyết Anh, Q.2, TP.HCM bị chặn lại tại cửa an ninh sân bay Tân Sơn Nhất khi gia đình đã làm xong các thủ tục lên máy bay để đi Phú Quốc. Lý do: bản sao khai sinh của 2 cháu nhỏ bị quá hạn 6 tháng.

Anh Đoàn Gia Bảo (P.Bình Trị Đông B, Q.Bình Tân, TP.HCM) cho biết: “Mỗi lần đi xin việc là mệt với chuyện chứng thực các giấy tờ, vì ở đâu cũng đòi hỏi bản sao có chứng thực trong vòng 3, 6 tháng”.

Ông Nguyễn Đình Nam, Phó chủ tịch UBND phường Nguyễn Cư Trinh, Q.1 cho biết: Bình quân mỗi ngày, phường chứng thực khoảng 1.500  - 2.000 bản. Theo ông, cơ quan, đơn vị tiếp nhận bản sao không cần chứng thực sau khi đối chiếu với bản chính là đủ. Đồng quan điểm này, một lãnh đạo phường 12, Q.Tân Bình nói: “Thực ra, khi chứng thực sao y bản chính, cán bộ phường cũng so với bản chính mà chứng thực, hành động đó cũng như việc người tiếp nhận hồ sơ tự so bản sao với bản chính mà thôi. Nếu làm được việc này sẽ hạn chế được thời gian, tiết kiệm tiền của nhân dân và cả của cán bộ phường”. Còn ông Trần Văn Bảy, Trưởng phòng Bổ trợ tư pháp, Sở Tư pháp TP.HCM giải thích: Theo Điều 3, Nghị định 79 ngày 18.5.2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, thì bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị pháp lý sử dụng thay cho bản chính trong các giao dịch.

Đồng thời, Điều 6 của Nghị định cũng xác định rất rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao. Cụ thể: 1. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính không được yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu. 2. Trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ bản sao là giả mạo thì có quyền xác minh. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao không có chứng thực có quyền yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu. Người đối chiếu phải ký xác nhận vào bản sao và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao so với bản chính. Mặt khác, cần khẳng định rằng, pháp luật hiện hành không có quy định về thời hạn sử dụng của bản sao.Việc tự ý đặt ra thời hạn sử dụng của bản sao để từ chối tiếp nhận bản sao là trái pháp luật, gây phiền hà cho người dân.

4. Báo Tuổi trẻ Online có bài ĐBQH không đồng ý với trả lời của Bộ Tư pháp. Bài báo phản ánh: Đại biểu Quốc hội Trần Thị Quốc Khánh (Hà Nội) cho biết trả lời mới đây của Bộ Tư pháp (thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ) về kiến nghị của bà liên quan đến quyết định 1623 ngày 23-8-2012 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước giao Công ty SJC độc quyền sản xuất vàng miếng là chưa xác đáng và sẽ tiếp tục kiến nghị.

Trong văn bản trả lời bà Khánh, Bộ Tư pháp cho rằng Công ty SJC là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước trực thuộc UBND TP.HCM, trong trường hợp cần thiết chuyển đổi quyền quản lý và sở hữu sẽ đơn giản, tiết kiệm cho ngân sách nhà nước so với việc thành lập một doanh nghiệp mới để thực hiện hoạt động này. Theo Bộ Tư pháp, “việc Ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định là có cơ sở pháp lý, đúng quy định về thẩm quyền tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng”.

5. Báo Đầu tư Chứng khoán có bài Bế tắc thi hành án vụ lãnh đạo VMG thua kiện. Bài báo phản ánh: Ngày 28/8/2012, tại TP. HCM, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao đã xử cho nhóm cổ đông lớn, sở hữu xấp xỉ 20% cổ phần của CTCP Thương mại và Dịch vụ dầu khí Vũng Tàu (VMG) thắng kiện ông Nguyễn Quang Ninh, đại diện theo pháp luật của VMG (sở hữu xấp xỉ 5% cổ phần).

Nội dung bản án của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao cũng như nội dung bản án của Tòa sơ thẩm trước đó là hủy kết quả cuộc họp Đại hội đồng cổ đông (ĐHCĐ) thường niên 2011 của VMG vì có những yếu tố bất hợp pháp; lãnh đạo VMG, đứng đầu là ông Nguyễn Quang Ninh phải tiến hành lại ĐHCĐ. Tuy nhiên, cho đến nay, ông Ninh vẫn không tổ chức lại ĐHCĐ 2011. Ngày 7/1/2013, Cục Thi hành án tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu đã tổ chức thi hành án đối với ông Ninh, nhưng ông này tiếp tục vắng mặt như những lần mà Tòa án mở phiên tòa xét xử trước đó.

Thông báo số 19TB-CTHA của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 7/1/2013 nêu rõ: “HĐQT Công ty phải tổ chức ĐHCĐ trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản... Nếu không triệu tập họp ĐHCĐ thì phải bồi thường thiệt hại phát sinh đối với Công ty và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật (có thể bị xử lý hình sự theo điểm b, khoản 2, Điều 118 Luật Thi hành án dân sự năm 2008). Trường hợp HĐQT của Công ty không triệu tập họp ĐHCĐ thì trong thời hạn 30 ngày tiếp theo, Ban Kiểm soát Công ty thay thế HĐQT triệu tập họp ĐHCĐ (theo khoản 4, Điều 97, Luật Doanh nghiệp 2005 và khoản 4b, Điều 13, chương VI Điều lệ Công ty).

“Nếu hết thời hạn 30 ngày mà Chủ tịch HĐQT VMG không triệu tập họp ĐHCĐ thì Cục Thi hành án dân sự Bà Rịa - Vũng Tàu sẽ ra quyết định phạt tiền và ấn định thời hạn để Chủ tịch HĐQT thực hiện. Hết thời hạn đã ấn định mà Chủ tịch HĐQT Công ty vẫn không thực hiện thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiện hình sự về tội không chấp hành án”, Thông báo số 19TB-CTHA nhấn mạnh.

Đến nay, đã quá 60 ngày so với thời hạn cuối cùng mà Cục Thi hành án dân sự Bà Rịa - Vũng Tàu đưa ra, đối tượng phải thi hành án là lãnh đạo VMG vẫn không tổ chức ĐHCĐ. Mặt khác, cũng không thấy Cục Thi hành án dân sự Bà Rịa - Vũng Tàu ra quyết định phạt tiền hay làm các bước để chuyển cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.

Trao đổi với ĐTCK, ông Đinh Văn Thái, chấp hành viên Cục Thi hành án dân sự Bà Rịa -Vũng Tàu cho biết, ông Ninh thường xuyên bất hợp tác nên cơ quan thi hành án bế tắc trong việc thi hành bản án này.

Theo quy định tại Điều 97, Luật Doanh nghiệp, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng có quyền triệu tập họp ĐHCĐ, trong trường hợp HĐQT và Ban Kiểm soát không triệu tập họp Đại hội theo quy định.

Trường hợp của VMG, liệu cơ quan thi hành án có trách nhiệm hướng dẫn nhóm cổ đông VMG thắng kiện tổ chức ĐHCĐ? Ông Đinh Văn Thái cho rằng, đó là việc của các cổ đông, cơ quan thi hành án cũng đã làm hết chức năng rồi! Mặc dù vậy, ông Thái chia sẻ: “Chúng tôi đang cho mời ông Nguyễn Quang Ninh đến làm việc liên quan đến việc tiến hành ĐHCĐ, hoặc sẽ tổ chức gặp mặt lãnh đạo VMG và nhóm cổ đông thắng kiện để bàn cách tổ chức Đại hội”.

6. Báo Phụ nữ Online có bài Hành trình ly hôn – Bài 2: "Ly" mà không "thoát". Bài báo phản ánh: Sau khi cầm quyết định ly hôn của tòa án, những tưởng được “tự do”, nhưng nhiều người đã không thể thoát được cuộc hôn nhân cũ. Hay nói đúng hơn là không thoát khỏi người vợ hoặc chồng cũ!

Chỉ tính riêng năm 2012, Báo Phụ Nữ đã tiếp nhận hàng chục lá đơn kêu cứu của những trường hợp dù ly hôn rồi vẫn còn bị vợ cũ theo dõi, phá bĩnh hay bị chồng cũ đánh đập, lăng nhục. Nguyên nhân hầu hết là để tranh đoạt tài sản.

Tiếp chúng tôi trong căn phòng trọ nóng như nung ở xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, chị L.T.T., SN 1965, nói trong nước mắt: “17 năm chung sống, từ tay trắng, vợ chồng đã cùng tạo lập được một xưởng dệt với hàng ngàn mét vuông đất ở Củ Chi, vậy mà, ngay từ lúc chưa ly hôn, anh ta chửi mắng, đuổi thẳng ba mẹ con tôi khỏi nhà, đưa người phụ nữ khác về chung sống. Vì con, tôi phải nghỉ làm, chuyển trường về nơi mới để giúp con ổn định lại tinh thần sau cú sốc ba phản bội mẹ. Tòa xử anh ta phải chia lại tôi một phần tài sản trị giá hơn một tỷ đồng, nhưng anh ta không thi hành án. Tháng 12/2012, sau hai năm mòn mỏi khiếu kiện, tôi được anh ta thông báo về Củ Chi nhận phần tài sản của mình thì mới biết toàn bộ nhà xưởng ở đây đã cháy rụi, dù bán đổ tháo cũng chưa đủ trả nợ khoản vay ngân hàng mà anh ta từng mang xưởng này đi thế chấp! Từ ngày giao cho tôi đống nợ, anh ta bỏ đi Bình Dương sống cùng người mới. Tôi hết duyên mà vẫn còn mang nợ!”.

Cũng vì tranh chấp tài sản với chồng cũ, chị N.T.T.L., ngụ ở Q.11, rơi vào tình trạng ly mà không thoát. Anh chị chung sống hơn 18 năm, chung tay cất được ngôi nhà ba tấm khang trang. Nhà xây xong thì chị L., phát hiện anh T.V.X., chồng chị, có bồ và đã có một đứa con rơi, là con trai, trong khi chị L. sinh một lèo ba cô con gái. Vì thế, anh X. dẫn ngay người mới về nhà, chiếm trọn tầng trệt và tầng một làm tổ uyên ương. Chị L. làm dữ, anh X. chìa ra lá đơn ly hôn. Sau khi tòa chia đôi tài sản cho chị: một nửa căn nhà và một nửa số nợ gần 400 triệu đồng, chị không biết làm sao lấy nhà cũng chẳng biết làm sao trả nợ. Anh X. và người vợ mới khẳng định không có tiền “thối” lại cho chị ra khỏi nhà, còn thách thức: “Có giỏi thì đi kiện, chúng tôi đi hầu”. Vậy là suốt bốn năm qua, chị phải ra vào chung một nhà với những người lẽ ra “không đội trời chung”.

Vấn nạn chồng cũ là một nỗi nhức nhối không chỉ riêng của người phụ nữ rơi vào hoàn cảnh đó mà còn là bi kịch cho những đứa trẻ lỡ sinh trong gia đình có người chồng, người cha tệ bạc, cạn tàu ráo máng. N.T.N., sinh viên năm thứ tư, giờ phải ở trọ trên tầng bốn của tòa nhà sáu tầng do cha mẹ mình từng là đồng sở hữu (giờ đã thành tổ ấm mới, là cơ sở kinh doanh làm ra tiền tỷ của cha) cay đắng nói: “Luật pháp đã không bảo vệ quyền lợi của mẹ con tôi. Lẽ ra, việc cha tôi phản bội mẹ, vi phạm Luật HNGĐ khi đưa người phụ nữ khác về chung sống, phải là một yếu tố để quy lỗi, bắt ông phải để phần tài sản nhiều hơn cho mẹ tôi nhưng luật chỉ yêu cầu chia đôi bình thường. Người gây lỗi là cha tôi, do có hộ khẩu ở căn nhà đó, đã ngang nhiên đuổi mẹ con tôi ra khỏi căn nhà chung. Tôi thật không biết phải kêu cứu ở đâu để giúp mẹ lấy lại công bằng”.

7. Báo Phụ nữ Today có bài 1,6 triệu người đồng tính tuổi kết hôn, VN có sửa luật? Bài báo đưa tin: Ngày 10/5, một hội thảo để các đại biểu Quốc hội có cơ hội lắng nghe câu chuyện của cộng đồng đồng tính, song tính và chuyển giới đã được Viện Nghiên cứu lập pháp và Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE) tổ chức tại Hà Nội.

Theo nghiên cứu của iSEE, VN đang có khoảng 1,6 triệu người đồng tính, song tính và chuyển giới ở độ tuổi 15-59. Họ gặp nhiều vấn đề như khó khăn trong nhận dạng (với nhóm chuyển giới), sống chung, sinh con, nhận con nuôi...

Theo TS Nguyễn Thu Nam (Viện Chiến lược và chính sách y tế), tại châu Âu số người đồng giới kết hôn chiếm 2-3%/tổng số và ổn định trong 10 năm qua. Tại các nước cho phép kết hôn đồng giới, tỉ lệ bệnh lây truyền qua đường tình dục giảm hẳn. Rất dễ dàng nhận thấy trong khoảng 1,6 triệu người đồng tính, song tính và chuyển giới, ở độ tuổi lập gia đình chiếm tỷ lệ rât cao. Tuy nhiên, vấn đề hôn nhân đồng tính ở nước ta hiện nay lại vẫn chưa được pháp luật công nhận khiến không ít các cặp đôi  đồng giới phải đau đầu.

Tháng 4/2013, Bộ Y tế kiến nghị khi sửa Luật Hôn nhân-Gia đình cần chấp nhận kết hôn đồng giới vì nó là quyền được sống thực với gì mình có. Theo PGS.TS Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế: "Đứng ở góc độ y tế thì đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới (gọi chung là người đồng tính) không phải là một loại bệnh. Vì vậy, y học không thể can thiệp và cũng không thể chữa khỏi". Người đồng tính cũng có quyền sống, quyền ăn, ở, mặc, quyền được yêu thương và mưu cầu hạnh phúc. Đứng ở góc độ quyền công dân, họ được lao động, học tập, khám bệnh, chữa bệnh, khai sinh, khai tử, kết hôn…. có quyền và thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước và xã hội.

Trước đây quy định xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền với hành vi kết hôn giữa những người cùng giới tính đã được Bộ Tư pháp quy định. Theo đó, bản dự thảo Nghị định có nội dung xử phạt người kết hôn đồng giới với mức phạt tăng nặng hơn trước, mức cao nhất lên đến 1 triệu đồng.

Các ý kiến phản đối đã chỉ ra nhiều điểm bất hợp lý trong quy định xử phạt người đồng tính kết hôn, đó là: không có căn cứ, vi phạm quyền con người, không khả thi trong thực tế… Trong khi đó, cộng đồng người đồng tính bày tỏ sự thất vọng đối với quy định xử phạt này trong bản dự thảo Nghị định. Một số tổ chức bảo vệ quyền lợi cho cộng đồng người đồng tính ở Việt Nam cũng lên tiếng và có hành động kêu gọi, kiến nghị hủy bỏ quy định xử phạt người kết hôn đồng tính.

Và cuối cùng kết luận của các cơ quan chức năng với hôn nhân đồng tính ở nước ta hiện nay là không cấm nhưng không thừa nhận. Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế (Bộ Tư pháp) Dương Đăng Huệ cho biết: "“Hướng đi phù hợp của pháp luật là không cấm và không can thiệp hành chính vào quan hệ chung sống của những người cùng giới, đồng thời có quy định về việc giải quyết hậu quả pháp lý phát sinh từ việc chung sống này".

8. Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh có bài Xử nghiêm kẻ lừa đảo qua công chứng. Bài báo phản ánh: Tình trạng nhiều người dùng giấy tờ giả, nhờ người mạo danh “đóng thế” qua công chứng để lừa đảo với thủ đoạn càng ngày càng tinh vi. Nhiều công chứng viên cho rằng bọn lừa đảo “nhờn thuốc” vì mức xử phạt đối với hành vi giả mạo quá thấp so với số tài sản mà bọn lừa đảo có được nếu việc công chứng trót lọt. Công an cũng hiếm khi xử lý hình sự việc giả mạo này.

Ông Lâm Quốc Thái, Chánh Thanh tra Sở Tư pháp TP.HCM, có nhiều kiến nghị để xử lý, hạn chế tình trạng này. “Mức chế tài vi phạm hiện nay chưa đủ sức răn đe. Theo quy định hiện hành, việc dùng giấy tờ giả hay mạo danh chủ thể để giao dịch có mức phạt tối đa chỉ 4 triệu đồng. Mức phạt này quá thấp so với giá trị tài sản giao dịch nên những kẻ lừa đảo không ngán. Sở đang kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định theo hướng nâng mức xử phạt hành chính để răn đe người có ý định vi phạm” - ông Thái nói.

Theo ông Thái, các tổ chức công chứng gặp nhiều khó khăn trong phát hiện việc giả mạo. Phát hiện đã khó nhưng khi xử lý, cơ quan công chứng cũng lúng túng vì họ không phải là cơ quan có thẩm quyền tạm giữ giấy tờ (trong trường hợp nghi vấn, cần xác minh) hoặc tạm giữ người. Nhiều trường hợp báo công an địa phương nhưng khi công an đến nơi, kẻ giả mạo đã kịp bỏ đi.

Chưa hết, khi phát hiện kẻ lừa đảo sử dụng giấy tờ giả có dấu hiệu hình sự, các cơ quan công chứng chuyển giao hồ sơ cho công an xử lý nhưng công an thường cho rằng vụ việc chưa phát sinh hậu quả, không đủ cơ sở xử lý hình sự mà chỉ xử lý hành chính. Giải quyết như vậy là chưa thỏa đáng, chưa giải quyết tận gốc của vấn đề vì những người làm, sử dụng giấy tờ giả đã có đủ dấu hiệu của tội phạm.

Ông Thái khẳng định việc phối hợp giữa các cơ quan trong xử lý vi phạm hành vi giả mạo trong công chứng thời gian qua chưa thường xuyên, chưa tốt. Khi công chứng viên phát hiện vụ việc có dấu hiệu vi phạm báo cho công an thì họ yêu cầu công chứng viên làm tường trình nhiều lần, ảnh hưởng công tác và uy tín của công chứng viên.

“Thanh tra Sở còn nhận thấy sự đùn đẩy trách nhiệm giữa cơ quan công an nơi đặt trụ sở của tổ chức công chứng. Có hiện tượng công an không tiếp nhận giải quyết vụ việc mà hướng dẫn chuyển hồ sơ cho cơ quan khác. Chưa kể là quy trình tiếp nhận hồ sơ, phản hồi thông tin tiếp nhận hồ sơ thường chậm (hơn 30 ngày) nên ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của những người liên quan và thời hiệu xử lý vụ việc. Còn việc phản hồi về kết quả điều tra thì hầu như không có nên khi các bên liên quan khiếu nại, tố cáo, cơ quan công chứng khó trả lời cho người khiếu nại. Bộ Tư pháp và Bộ Công an cần có quy định cụ thể về cơ chế phối hợp xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực công chứng có dấu hiệu hình sự và cơ chế phối hợp giữa công an với các tổ chức hành nghề công chứng.

Theo công chứng viên Hoàng Mạnh Thắng (TP.HCM), nếu công an xử lý quyết liệt thì kẻ làm, sử dụng giấy tờ giả trong mua bán nhà, đất sẽ ngán ngại, việc lừa đảo trong lĩnh vực này sẽ giảm.

9. Báo Người đưa tin có bài Công chứng online: Tranh cãi chất lượng. Bài báo phản ánh: Dịch vụ công chứng online hay còn gọi là công chứng trực tuyến ra đời là một nội dung quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính. Việc cải cách này sẽ giảm thiểu được rất nhiều công sức của người dân, tiền của của xã hội. Có thể xem đây là bước cải cách thủ tục hành chính quan trọng trong quá trình công chứng, chứng thực các loại giấy tờ văn bản, bằng cấp.... Tuy nhiên cơ quan này chịu trách nhiệm bảo mật đối với cơ sở dữ liệu lại đang là vấn đề gây tranh cãi.

Việc nhiều loại hình dịch vụ công chứng ra đời không chỉ giảm sức ép cho công chứng công mà còn đáp ứng nhu cầu cũng như sự lựa chọn loại hình dịch vụ của người dân ngày một tốt hơn.  Có nhiều quan điểm cho rằng, dịch vụ công chứng online vừa tiện ích vừa tiết kiện thời gian và tiền bạc, cùng một lúc có thể thực hiện được nhiều giao dịch. Tuy nhiên điểm khác biệt của công chứng online là giao dịch giữa máy tính với máy tính, máy tính với người sử dụng dịch vụ. Mặt khác, luật pháp chưa công nhận giao dịch giữa máy tính với máy tính có giá trị pháp lý. Vậy trách nhiệm pháp lý trong công chứng online thuộc về cơ quan nào quản lý cơ sở dữ liệu? Bộ Tư pháp hay bộ Công an?

Theo quy định hiện nay, công chứng viên phải chịu trách nhiệm dân sự, bồi thường những thiệt hại phát sinh cho những người tham gia hợp đồng, giao dịch hoặc những người có liên quan. Sự việc dưới đây là một một ví dụ điển hình về trách nhiệm cá nhân của công chứng viên.

Ngày 9/4/2010, sở Tư pháp TP.Hà Nội đã nhận được công văn của văn phòng công chứng Thăng Long và nhiều bộ tài liệu liên quan đến văn phòng công chứng Việt Tín với nội dung: Một số đối tượng lừa đảo đã giả mạo con dấu, chữ ký của văn phòng công chứng Thăng Long để làm hợp đồng ủy quyền. Sau đó, hợp đồng ủy quyền được kẻ lừa đảo mang đến Văn phòng công chứng Việt Tín để làm hợp đồng chuyển nhượng tài sản. Do không phát hiện được đây là giấy tờ giả mạo nên văn phòng công chứng Việt Tín đã công chứng xác nhận các giao dịch trên.

Qua kiểm tra, nhận thấy sự việc nêu trên là có thật nên ngay trong ngày 9/4, sở Tư pháp đã mời ông Nguyễn Minh H. đến làm việc. Cuộc hẹn sau đó được ông H. cáo đến ngày 12/4 với lý do bận. Tuy nhiên, đến ngày hẹn, người ta tìm thấy xác ông H. ở bờ sông Hồng, thuộc địa phận huyện Thanh Trì, Hà Nội. Qua xác nhận của cơ quan công an, nhiều khả năng cái chết của ông H. liên quan đến việc xác nhận sai hàng trăm hồ sơ về nhà đất, gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng. 

Nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng nếu cơ quan chức năng phát hiện văn phòng công chứng Việt Tín có sai phạm trong việc công chứng các hợp đồng trên thì đương nhiên người phải chịu trách nhiệm sẽ là công chứng viên. Cụ thể về mặt pháp lý cá nhân ông Nguyễn Minh H. phải chịu trách nhiệm về những giấy tờ mà ông đã công chứng, xác nhận sai.

Công chứng, chứng thực có tầm ảnh hưởng rất lớn và quan trọng đến đời sống, xã hội. Để phòng ngừa các tranh chấp, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, các đương sự rất cần phải qua công chứng chứng thực. Có nhiều ý kiến cho rằng cần có nhiều loại hình dịch vụ để giảm áp lực cho các cơ quan quản lý Nhà nước, đồng thời mang lại nhiều tiện ích cho người dân, người dân có quyền lựa chọn loại hình dịch vụ nào tiện ích và đảm bảo nhất.

Cái khó nhất khi thực hiện công chứng online là việc quy trách nhiệm khi có sai phạm. Nói về vấn đề này, TS. Lê Quang Minh, viện Công nghệ thông tin, đại học Quốc gia Hà Nội cho biết: "Trong công chứng tư và công chứng công, pháp luật có thể quy trách nhiệm đối với cá nhân hoặc tổ chức trong việc xác định sai phạm, về thẩm định các loại giấy tờ là một việc dễ dàng. Tuy nhiên đối với công chứng online thì việc quy trách nhiệm là vô cùng khó khăn. Thứ nhất, pháp luật hiện hành chưa công nhận việc trả lời máy tính với máy tính là một giao dịch có giá trị về mặt pháp lý. Thứ hai, mỗi văn bản cần phải có một mã số, gọi là mã định danh viết tắt là (ID), để đưa vào số hóa lưu trữ văn bản gốc. Phải có quy định về quy chuẩn kỹ thuật bảo mật. Vậy mã định danh đó do đơn vị nào sẽ quản lý? Vì đây thuộc về vấn đề công nghệ thông tin, nhưng bên công nghệ thông tin lại không có thẩm quyền. Thứ ba, năng lực cán bộ cũng là một vấn đề quan trọng, vậy việc đào tạo như thế nào để đáp ứng yêu cầu công việc. Nơi nào đào tạo công công chứng viên online?”.

Theo TS. Lê Quang Minh, nếu pháp luật cho phép công chứng online là một trong loại hình dịch vụ của công chứng thì cần phải có hành lang pháp lý cụ thể riêng cho loại hình dịch vụ này. Đặc biệt về cơ sở dữ liệu, cần có sự phối hợp của các cơ quan quản lý. Nếu giao cho Bộ nào quản lý thì Bộ đó phải chịu trách nhiệm về bảo mật thông tin. Cũng theo ông Minh, nếu không quy định trách nhiệm cụ thể thì thiệt hại trong công chứng online là không thể tính được.  BOX Cần có nhiều loại hình dịch vụ công chứng

Trong phát triển kinh tế, các văn bản pháp lý được công chứng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức tiện lợi trong giao dịch. Đồng thời, đây là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp khi buộc các bên tham gia giao dịch phải xác nhận tính xác thực của hợp đồng cũng như trách nhiệm pháp lý trong tham gia giao dịch. Vì vậy, việc bắt buộc công chứng các loại hợp đồng trong giao dịch liên quan đến kinh tế, đất đai sẽ tránh được nhiều rắc rối, kiện cáo phát sinh. Tuy nhiên, bên cạnh những tiện ích, công chứng online vẫn còn nhiều kẽ hở và muốn thực hiện tốt, cơ quan chức năng sớm phải "lấp" khoảng hở đó…     

II- THÔNG TIN KHÁC

Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh có bài Lại đề nghị xóa hộ khẩu người xuất cảnh, đi tù. Bài báo phản ánh: Sáng 9-5, Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM đã tổ chức hội thảo góp ý cho Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư trú. Các đại biểu tham dự hội thảo tiếp tục đề xuất cần cho nhập hộ khẩu ngay vào các TP trực thuộc trung ương đối với những trường hợp đã có nhà ở hợp pháp mà không cần phải quy định thêm thời gian tạm trú như Điều 20 Luật Cư trú hiện hành. Trước đó vấn đề này đã được nhiều đại biểu ở các quận, huyện TP.HCM đề xuất trong các cuộc làm việc với Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Bên cạnh đó, có ý kiến đề xuất cần mở rộng đối tượng xóa hộ khẩu tại Điều 22 của Luật Cư trú hiện hành. Cụ thể, với các đối tượng đang thi hành án tù, có ý kiến cho rằng vì phải thụ án ở địa phương khác trong một thời gian dài, nếu không xóa hộ khẩu là không hợp lý. Hoặc với các đối tượng chưa định cư mà chỉ sống ở nước ngoài trong một thời gian dài thì cũng nên xóa hộ khẩu (luật hiện hành chỉ quy định xóa hộ khẩu đối với người ra nước ngoài để định cư); vì trên thực tế, những trường hợp này địa phương chủ yếu quản lý số liệu, còn con người thì rất khó quản lý. Trên tinh thần đó, ông Vương Tấn Độ, Phó Trưởng phòng Tư pháp quận Bình Tân, đề xuất thêm các đối tượng cần xóa hộ khẩu, gồm: Đối tượng đang thi hành án phạt tù, đang áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục; đối tượng trốn khỏi nơi cư trú do có quyết định truy nã; đối tượng đi nước ngoài từ 12 tháng trở lên; những hộ và nhân khẩu đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp nhưng thực tế không cư trú tại đó từ 24 tháng trở lên, sau khi đã có thông báo yêu cầu họ làm thủ tục thay đổi nơi thường trú.

Trước đó, nội dung xóa hộ khẩu đối với người đi tù hoặc người xuất cảnh từ hai năm trở lên đã được rút ra khỏi dự thảo khi dư luận có nhiều ý kiến trái chiều.



File đính kèm