Chiều 19/3, làm việc với Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật (KTVB&TCTHPL) về Đề án cơ chế, tiêu chí đánh giá hiệu quả tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh yêu cầu tính toán lộ trình thí điểm cơ chế, tiêu chí đánh giá hiệu quả tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật từ năm 2026 đến 2028 và vận hành chính thức từ năm 2031. Cùng dự buổi làm việc có Thứ trưởng Phan Chí Hiếu.
Báo cáo tại buổi làm việc, Cục trưởng Cục KTVB&TCTHPL Hồ Quang Huy cho biết, trong bối cảnh yêu cầu đổi mới công tác thi hành pháp luật ngày càng cao, thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển, tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “hai con số”, nâng cao đời sống của Nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước, việc thiếu một cơ chế đánh giá khách quan, minh bạch sẽ làm hạn chế hiệu quả chỉ đạo, điều hành của cơ quan, người có thẩm quyền. Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả công tác thi hành pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan trong thi hành pháp luật.
Hiện nay, Việt Nam đã có một số bộ chỉ số đáng lưu ý và có liên quan đến lĩnh vực pháp luật, nhưng chưa có bộ chỉ số chính thức để đánh giá về tình hình thi hành pháp luật nói chung, hiệu quả thi hành văn bản quy phạm pháp luật sau ban hành nói riêng. Xác định đây là nhiệm vụ khó và quan trọng, Cục KTVB&TCTHPL dự kiến các nội dung cần triển khai để nghiên cứu, xây dựng chỉ số đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật như có cơ chế thuê chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau như pháp lý, thống kê, kinh tế, một số lĩnh vực dân sinh nổi bật có tác động sâu rộng đến các đối tượng chịu tác động như đất đai, đầu tư… để tham gia thiết kế khung theo dõi, hệ thống chỉ số, các công cụ hỗ trợ thực hiện theo dõi việc thi hành pháp luật.

Quang cảnh cuộc làm việc. (Ảnh trong bài: PV)
Đồng thời, thực hiện khảo sát tại một số Bộ, ngành, địa phương trong một số lĩnh vực pháp luật để thu nhận thông tin về thi hành pháp luật và để chỉnh lý các chỉ số đánh giá; huy động các cơ quan, đơn vị liên quan trong và ngoài Bộ tham gia xây dựng các chỉ số. Thí điểm thực hiện ở các giai đoạn khác nhau của Đề án ban hành để lắng nghe phản hồi từ thực tiễn, tiếp tục chỉnh lý, nâng cấp, mở rộng phạm vi, cấp độ đánh giá phù hợp với tình hình thực tiễn. Chủ trì, phối hợp các Bộ, cơ quan ngang Bộ xây dựng Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp để hướng dẫn các nội dung kỹ thuật…
Cục trưởng Hồ Quang Huy.
Để bảo đảm chất lượng, tiến độ xây dựng, ban hành chỉ số đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật, Cục KTVB&TCTHPL xin ý kiến Lãnh đạo Bộ với một số vấn đề về hình thức ban hành, phạm vi đối tượng áp dụng, phương pháp đánh giá cấp độ đánh giá, lộ trình thực hiện, nguồn lực bảo đảm thực hiện.
Phát biểu chỉ đạo, Bộ trưởng Nguyễn Hải Ninh nhấn mạnh đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm triển khai các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về hoàn thiện thể chế. Đồng chí Tổng Bí thư đã chỉ đạo rất quyết liệt về việc tổ chức thi hành pháp luật gắn liền với đánh giá tính hiệu quả của văn bản sau khi đi vào cuộc sống. Vì đây là việc mới và khó nên Bộ trưởng yêu cầu phải nghiên cứu kỹ kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là các nguyên tắc, lý thuyết của OECD và các nước tiên tiến đã áp dụng.
Về chỉ số, Bộ trưởng phân tích 4 nhóm chỉ số chính trong một “vòng đời” của chính sách pháp luật, bao gồm: Chỉ số đầu vào (các điều kiện pháp lý và tổ chức cần thiết); Chỉ số đầu ra (hành vi thi hành pháp luật); Kết quả (mức độ tuân thủ pháp luật); Tác động của văn bản đối với xã hội.
Sản phẩm cuối cùng của Đề án phải là một bộ chỉ số đánh giá, dự kiến sẽ được ban hành dưới hình thức Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Bộ trưởng cũng đặt vấn đề về sự liên kết giữa bộ tiêu chí này với sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sắp tới. Bộ trưởng yêu cầu tính toán lại lộ trình thí điểm từ năm 2026 đến 2028 và vận hành chính thức từ năm 2031.
Về phạm vi đối tượng, Bộ trưởng gợi ý không chỉ dừng lại ở các cơ quan hành chính nhà nước mà nên mở rộng ra cả Quốc hội, Tòa án, Viện kiểm sát để có sự đánh giá tương thích và định kỳ (ví dụ như mô hình của Anh là đánh giá luật sau mỗi 3-5 năm). Bộ trưởng lưu ý về nguồn kinh phí thực hiện đề án có thể huy động từ hợp tác quốc tế, các quỹ hoặc ngân sách đề án để đảm bảo tính khả thi cho công tác nghiên cứu và triển khai.
Thảo luận về một số kỹ thuật khi áp dụng bộ tiêu chí đánh giá, gợi ý cách sử dụng trong thực tiễn quản lý nhà nước cũng như chia sẻ trải nghiệm cá nhân khi sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để hỗ trợ công việc, Bộ trưởng thống nhất bước đầu về tên gọi Đề án. Đồng thời, yêu cầu Cục KTVB&TCTHPL và các đơn vị liên quan phải tổ chức tập huấn về ứng dụng AI trong công tác pháp luật vì tính hiệu quả và khả năng tham khảo rất lớn từ ứng dụng công nghệ này.
T. Uyên