Chiều 4/3, Bộ trưởng Nguyễn Hải Ninh làm việc với Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật về dự án Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật.
Dự thảo Pháp lệnh dự kiến sửa đổi, bổ sung quy định về viện dẫn, sử dụng văn bản hợp nhất. Theo đó, văn bản hợp nhất được cơ quan, tổ chức, cá nhân viện dẫn, sử dụng chính thức trong quá trình áp dụng và thi hành pháp luật.
Việc viện dẫn văn bản hợp nhất được thực hiện như sau: Đối với văn bản hợp nhất của luật, pháp lệnh, khi viện dẫn lần đầu phải ghi đầy đủ tên, số, ký hiệu của luật, pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung và cụm từ được đặt trong dấu ngoặc đơn bao gồm “hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số” kèm theo số, ký hiệu của văn bản hợp nhất. Đối với văn bản hợp nhất của văn bản khác do cơ quan, người có thẩm quyền ở Trung ương ban hành, khi viện dẫn lần đầu phải ghi tên loại, số, ký hiệu, tên gọi của văn bản được sửa đổi, bổ sung và cụm từ được đặt trong dấu ngoặc đơn bao gồm “hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số” kèm theo số, ký hiệu của văn bản hợp nhất.
Đối với văn bản hợp nhất của văn bản do cơ quan, người có thẩm quyền ở địa phương ban hành, khi viện dẫn lần đầu phải ghi tên loại, số, ký hiệu, cơ quan, người ban hành văn bản, tên gọi của văn bản được sửa đổi, bổ sung và cụm từ được đặt trong dấu ngoặc đơn bao gồm “hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số” kèm theo số, ký hiệu của văn bản hợp nhất.
Trường hợp văn bản được sửa đổi, bổ sung tên gọi thì việc viện dẫn được thực hiện theo tên gọi đã được sửa đổi, bổ sung. Lần viện dẫn tiếp theo, ghi “Văn bản hợp nhất số” kèm theo số, ký hiệu của văn bản hợp nhất.
Việc viện dẫn phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm thì phải nêu rõ số thứ tự của phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản hoặc thứ tự điểm trong văn bản hợp nhất.
Dự thảo Pháp lệnh cũng dự kiến bổ sung quy định về hợp nhất văn bản trong các trường hợp khác. Cụ thể, trường hợp văn bản có nội dung được sửa đổi, bổ sung bởi văn bản không phải là văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều; văn bản có nội dung được đính chính; văn bản có nội dung được bãi bỏ một phần hoặc hết hiệu lực một phần theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (trừ trường hợp hết thời hạn có hiệu lực được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật) thì việc hợp nhất văn bản được thực hiện theo quy định tại Pháp lệnh này.
Bộ trưởng phát biểu chỉ đạo tại cuộc làm việc.
Phát biểu chỉ đạo tại cuộc làm việc, Bộ trưởng Nguyễn Hải Ninh nêu rõ thực tế hiện nay, một luật gốc có thể bị sửa đổi, bổ sung bởi 3-4 luật khác nhau. Hệ quả là hệ thống văn bản trở nên phân mảnh, người áp dụng phải “ghép” nhiều văn bản mới hiểu được nội dung đầy đủ. Người dân và doanh nghiệp có nhu cầu chính đáng là được tiếp cận một văn bản hợp nhất liền mạch, dễ đọc, dễ tra cứu.
Trong khi đó, về mặt pháp lý, văn bản hợp nhất hiện nay chưa được coi là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị áp dụng trực tiếp. Khi viện dẫn căn cứ pháp lý, vẫn phải trích dẫn luật gốc và các luật sửa đổi, bổ sung. Đây chính là “nút thắt” gây lúng túng cho cán bộ soạn thảo khi ban hành văn bản mới: có được viện dẫn số hiệu văn bản hợp nhất không, hay buộc phải liệt kê đầy đủ các văn bản trước đó?
Về vấn đề này, Bộ trưởng đưa ra giải pháp kỹ thuật linh hoạt nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc pháp lý. Khi viện dẫn căn cứ pháp lý trong văn bản hành chính hoặc văn bản hướng dẫn, trước hết phải ghi đầy đủ tên và số hiệu của văn bản gốc, cùng các văn bản sửa đổi, bổ sung có liên quan, để bảo đảm chính xác về thẩm quyền ban hành và giá trị pháp lý.
Tuy nhiên, để tạo thuận lợi cho người đọc, có thể sử dụng ghi chú chân trang (footnote) hoặc phần chú thích để nêu rõ: “Nội dung này đã được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số… ngày… của…”. Cách làm này không thay đổi nguyên tắc viện dẫn nhưng giúp người sử dụng văn bản dễ dàng tìm đến bản hợp nhất để đọc liền mạch, hạn chế tình trạng phải tra cứu rời rạc.
Song song với giải pháp kỹ thuật, Bộ trưởng nhấn mạnh, phải chấn chỉnh quy trình và tiến độ hợp nhất văn bản. Không thể để tình trạng văn bản sửa đổi đã có hiệu lực cả năm nhưng văn bản hợp nhất vẫn chưa được công bố, khiến người dân phải tự “ghép” nội dung.
Để làm được như vậy thì khi trình văn bản sửa đổi, bổ sung, đơn vị chủ trì soạn thảo phải chuẩn bị sẵn dự thảo văn bản hợp nhất. Ngay sau khi văn bản sửa đổi được ban hành hoặc có hiệu lực, văn bản hợp nhất phải được ký xác thực và công bố kịp thời. Đây phải là một khâu bắt buộc trong quy trình, không phải việc làm thêm nếu còn thời gian.
Bên cạnh đó, phải ứng dụng công nghệ trong công tác hợp nhất. Không thể tiếp tục làm thủ công theo kiểu cắt - dán. Cần nghiên cứu, triển khai phần mềm hỗ trợ tự động cập nhật, đánh dấu nội dung sửa đổi, tích hợp dữ liệu, qua đó bảo đảm tính chính xác và tiết kiệm nguồn lực.
Bộ trưởng đề nghị đơn vị chủ trì soạn thảo nghiên cứu tiến tới công nhận giá trị pháp lý chính thức của văn bản hợp nhất. Mục tiêu là xã hội có thể sử dụng một văn bản hợp nhất duy nhất để áp dụng, thay vì phải viện dẫn nhiều văn bản rời rạc như hiện nay. Đây cũng là xu hướng chung của các quốc gia phát triển trong quá trình xây dựng hệ thống pháp luật minh bạch, ổn định.
T.Hoàng