Tạo lập khuôn khổ pháp lý thống nhất, toàn diện đầu tiên về công dân số

13/01/2026
Tạo lập khuôn khổ pháp lý thống nhất, toàn diện đầu tiên về công dân số
Ngày 13/1, Bộ Tư pháp tổ chức Hội đồng thẩm định độc lập dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về phát triển công dân số. Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì Hội đồng thẩm định.
Quy định rõ các lợi ích và trách nhiệm của công dân khi tham gia môi trường số

Theo thông tin từ Bộ Công an, sau 3 năm triển khai thực hiện, tính đến tháng 07/2025, Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 về việc phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06) đã cơ bản đạt được các mục tiêu có tính chất nền tảng. Kết quả của Đề án 06 đã góp phần giúp Việt Nam đạt được bước tiến đáng kể trong Bảng xếp hạng Phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) năm 2024 của Liên hợp quốc với việc Việt Nam đã tăng 15 bậc so với năm 2022, để đạt vị trí thứ 71 trên tổng số 193 quốc gia thành viên. 

Trong Đề án 06, công dân số được xác định là yếu tố nền tảng, quyết định sự thành công của chuyển đổi số ở cả 03 trụ cột: chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Để tiếp tục nâng cao hơn nữa các thành tựu của Đề án 06, cần phải hết sức chú trọng đến việc phát triển công dân số, đảm bảo hài hòa giữa việc thụ hưởng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ của công dân trong môi trường số. 


Quang cảnh cuộc họp.
 
Tuy nhiên, hiện tại, tình hình phát triển công dân số của Việt Nam vẫn còn những hạn chế nhất định. Cụ thể như: vẫn còn sự chênh lệch lớn về năng lực số của người dân giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa các nhóm dân cư khác nhau; hạ tầng công nghệ và hệ thống lưu trữ giữa các Bộ, ngành chưa thực sự hiệu quả đặc biệt; việc phổ cập các hạ tầng số, đặc biệt là định danh điện tử VNeID, vẫn còn gặp nhiều khó khăn, do thiếu các chính sách ưu đãi về thuế, phí, lệ phí để thay đổi thói quen của người dân từ môi trường truyền thống sang môi trường số.

Nghị quyết ban hành nhằm tạo lập khuôn khổ pháp lý thống nhất, toàn diện đầu tiên tại Việt Nam về công dân số, quy định rõ địa vị pháp lý, các lợi ích và trách nhiệm của công dân khi tham gia môi trường số. Tăng cường công tác quản lý nhà nước, quản trị xã hội trên môi trường số. Ban hành các cơ chế, chính sách đột phá, thống nhất trên toàn quốc, đặc biệt về ưu đãi mạnh mẽ phí, lệ phí và xây dựng Hệ thống Điểm công dân số, nhằm tạo động lực khuyến khích người dân thay đổi thói quen, tích cực tham gia dịch vụ công trực tuyến và các hoạt động chuyển đổi số. Thúc đẩy việc nâng cao năng lực số, kỹ năng số và nhận thức về an toàn thông tin cho toàn dân, thu hẹp khoảng cách số giữa khu vực thành thị, nông thôn và các nhóm dân cư, giải quyết “khoảng trống” thực tế giữa thành tựu kỹ thuật và khả năng sử dụng của người dân.

Để khuyến khích người dân chủ động tham gia, dự thảo Nghị quyết đề xuất cơ chế ghi nhận mức độ tích cực tham gia của công dân trên môi trường số gắn liền với các ưu đãi thiết thực. Dựa trên mức độ tích cực trau dồi kỹ năng số, tham gia dịch vụ công, các giao dịch số khác, công dân sẽ được hưởng thêm các chính sách miễn giảm thuế, phí như miễn 100% phí, lệ phí đối với các thủ tục hành chính cơ bản, thiết yếu, gắn với quyền nhân thân hoặc thủ tục hành chính có tần suất cao; giảm tối thiểu 50% phí, lệ phí đối với các thủ tục hành chính phức tạp, cần nhiều chi phí quản lý.

Việc xây dựng và triển khai “Hệ thống Điểm công dân số” gắn với dữ liệu dân cư, danh tính điện tử. Điểm được tính dựa trên cập nhật dữ liệu, tần suất sử dụng dịch vụ số và các đóng góp cho cộng đồng số. Điểm số được gắn với các quyền lợi, ưu đãi về thuế, phí, dịch vụ, thủ tục hành chính, an sinh xã hội.


Đại diện Bộ Công an báo cáo về dự thảo Nghị quyết.
 
Ứng dụng VNeID được định hướng phát triển cung cấp các tiện ích nhằm phục vụ tốt nhất cho quyền lợi của người dân, bao gồm: Cung cấp “ví điện tử quốc gia” và dịch vụ thanh toán số; cung cấp “chữ ký số cá nhân” an toàn (ký số bằng ứng dụng định danh quốc gia VNeID); cung cấp kho dữ liệu cá nhân; cung cấp “địa chỉ thư điện tử” chính thức cho mỗi công dân; phát triển “Mạng xã hội”. 

Bảo đảm quyền bình đẳng của người dân

Tại buổi thẩm định, các thành viên Hội đồng đánh giá cao sự cần thiết ban hành Nghị quyết của Chính phủ về phát triển công dân số để thúc đẩy phát triển công dân số, bảo vệ quyền lợi và nâng cao năng lực số của người dân trong kỷ nguyên số.

Tuy nhiên, để hoàn thiện dự thảo, theo bà Mai Thị Thanh Bình, đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ cần nghiên cứu, cân nhắc kỹ lưỡng việc sử dụng cụm từ “xếp hạng, phân loại công dân” bảo đảm phù hợp, tuân thủ tuyệt đối Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; rà soát các tiêu chí bảo đảm tính khả thi, công bằng giữa các đối tượng khác nhau về độ tuổi, trình độ, điều kiện kinh tế xã hội...; rà soát, bảo đảm đồng bộ, thống nhất các nội dung về chữ ký số, công dân số với Luật Chuyển đổi số và Luật Giao dịch điện tử.

Liên quan đến Hệ thống chấm điểm công dân số, đại diện Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp cho rằng việc quy định về chấm điểm công dân số có thể gây ra những rào cản tâm lý, phản ánh tiêu cực nhất định, do đó có thể cân nhắc chỉ quy định chung về công dân cơ bản khi tham gia dịch vụ công.

Một số ý kiến cho rằng việc phân chia “công dân số” thành các nhóm “tích cực”, “cơ bản” và “phổ thông” để hưởng các mức độ ưu đãi khác nhau cũng có thể dẫn đến sự bất bình đẳng. Những người am hiểu công nghệ sẽ có lợi thế hơn so với những người khác, kể cả trong khu vực công. Do đó, cần chỉnh sửa đảm bảo sự hài hòa giữa việc thụ hưởng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ, giúp người dân có đầy đủ công cụ và hành lang pháp lý để sống và làm việc an toàn, hiệu quả trong kỷ nguyên số.

Tại buổi thẩm định, các thành viên Hội đồng cho rằng cần làm rõ hơn khái niệm “công dân số”, tránh trùng lắp với các khái niệm đã có; xem xét lại các quy định về nghĩa vụ của công dân, đảm bảo phù hợp và khuyến khích, chứ không phải là bắt buộc; cần có cơ sở rõ ràng, cụ thể để phân loại, chấm điểm công dân số, tránh gây tác động tiêu cực; rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật liên quan để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ; xem xét trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức liên quan, đặc biệt là vai trò của Bộ Tư pháp trong việc rà soát, đề xuất sửa đổi các văn bản pháp luật; mở rộng quyền giám sát của người dân đối với hệ thống thông tin có sử dụng đầu tư công.

Phát biểu kết luận, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú đánh giá cao các ý kiến mang tính xây dựng của đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo và các thành viên Hội đồng, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, hướng tới mục tiêu hoàn thiện tốt nhất dự thảo Nghị quyết về phát triển công dân số của Việt Nam.

Hội đồng thống nhất đánh giá việc xây dựng Nghị quyết là cần thiết, nhằm tạo cơ chế khuyến khích phát triển công dân số, thúc đẩy chuyển đổi số trong các hoạt động, đặc biệt là trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, cơ quan chủ trì cần làm rõ hơn cơ sở pháp lý của chính sách này. Cụ thể, trong Tờ trình hiện chưa viện dẫn khoản 10 Điều 4 Luật Chuyển đổi số, trong khi đây là một trong những chính sách quan trọng của Nhà nước về phát triển công dân số. Việc bổ sung căn cứ này sẽ giúp hoàn thiện và củng cố cơ sở pháp lý cho Nghị quyết.

Về phạm vi điều chỉnh và các chính sách ưu đãi, Thứ trưởng đề nghị rà soát kỹ, tránh quy định trùng lặp hoặc can thiệp sâu vào các lĩnh vực đã được luật chuyên ngành điều chỉnh, nhất là các chính sách ưu đãi về thuế, phí, lệ phí. Đối với chính sách giảm thuế, cần cân nhắc kỹ tính khả thi, tác động thực tế và khả năng thực hiện của hệ thống thuế, bởi đây là vấn đề phức tạp về kỹ thuật và quản lý. Bên cạnh đó, đối với các dịch vụ công trực tuyến, cần phân biệt rõ giữa dịch vụ công bắt buộc và các dịch vụ thương mại điện tử thông thường; tránh việc thiết kế chính sách dẫn đến hạn chế quyền tiếp cận dịch vụ của công dân hoặc tạo ra sự phân biệt không cần thiết.

Cơ quan soạn thảo cần giải trình rõ phương án áp dụng, lộ trình thí điểm, tổng kết, hoàn thiện chính sách, làm rõ mối quan hệ giữa Nghị quyết này với các luật liên quan như Luật Thuế, Luật Phí và lệ phí, Luật Tổ chức Chính phủ. Trường hợp quy định liên quan đến thẩm quyền của Bộ Tài chính hoặc Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cần có giải trình đầy đủ về cơ sở pháp lý và thẩm quyền ban hành; làm rõ nguồn lực tài chính, nhân lực, hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là việc khai thác, vận hành các nền tảng số hiện có; đánh giá tác động về giới, dân tộc, bảo đảm có cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với các nhóm yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số, tránh tạo khoảng cách số.

Thứ trưởng nêu rõ, việc sử dụng các khái niệm như “điểm”, “xếp hạng”, “phân loại công dân số” đang tạo ra nhiều cách hiểu chưa thống nhất, do đó, cơ quan chủ trì soạn thảo lưu ý chỉnh lý theo hướng chuyển sang cách tiếp cận là “ngưỡng” hoặc “mức khuyến khích”, nhằm tránh hiểu nhầm và bảo đảm tính phù hợp với Hiến pháp.

T.Oanh