Sáng 01/4/2026, tại trụ sở Bộ Tư pháp, Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật đã tổ chức cuộc họp với các chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực pháp luật, thống kê, công nghệ thông tin và kinh tế để xin ý kiến về việc nghiên cứu, xây dựng hệ thống cơ chế, tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành văn bản quy phạm pháp luật sau ban hành.
Phát biểu khai mạc cuộc họp, ông Hồ Quang Huy, Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật nhấn mạnh, việc xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả thi hành văn bản quy phạm pháp luật sau khi ban hành là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật hiện nay.
Đây là nhiệm vụ nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng, đặc biệt là yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, hướng tới mục tiêu “pháp luật tốt trong cuộc sống”, bảo đảm các quy định pháp luật được thực thi hiệu quả, mang lại giá trị thực tiễn. Tại Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới của Bộ Chính trị nhấn mạnh phải xây dựng cơ chế đánh giá văn bản quy phạm pháp luật sau ban hành; đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
Thay mặt đơn vị chủ trì nhiệm vụ, ông Phan Hoàng Ngọc, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật đã trình bày tóm tắt nội dung nghiên cứu ban đầu đối với hệ thống tiêu chí, chỉ số đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật, trong đó, làm rõ sự cần thiết xây dựng các cơ chế, tiêu chí này. Thực tiễn cho thấy công tác tổ chức thi hành pháp luật vẫn còn là “khâu yếu”, chưa có công cụ đánh giá thống nhất, chủ yếu dựa trên báo cáo định tính, thiếu dữ liệu và chưa phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan trong quá trình thực thi.
Nhóm nghiên cứu bước đầu đề xuất 10 tiêu chí để xin ý kiến, bao gồm: mức độ đạt mục tiêu chính sách; hiệu quả kinh tế và chi phí tuân thủ; tính khả thi và mức độ thực thi; mức độ tuân thủ pháp luật; tác động kinh tế - xã hội; mức độ phù hợp với thực tiễn; tính thống nhất của hệ thống pháp luật; chất lượng kỹ thuật lập pháp; mức độ đồng thuận xã hội và tính ổn định của văn bản.
Các chuyên gia, nhà khoa học tham dự cuộc họp đã tập trung trao đổi, góp ý nhiều nội dung quan trọng như: phạm vi điều chỉnh của Đề án; phương pháp xây dựng và lượng hóa các tiêu chí; nguồn dữ liệu phục vụ đánh giá; tính khả thi trong tổ chức thực hiện; cũng như lộ trình áp dụng trong thực tiễn. Nhiều ý kiến đề nghị cần bảo đảm tính khách quan, minh bạch, dựa trên dữ liệu và có khả năng so sánh, qua đó nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước và trách nhiệm giải trình của các cơ quan có thẩm quyền.
Về cơ bản, các chuyên gia, nhà khoa học đều thống nhất cao về sự cần thiết và giá trị của việc xây dựng hệ thống cơ chế, tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành văn bản QPPL. Bên cạnh việc đánh giá chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, các chuyên gia cũng nhấn mạnh yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa đánh giá hiệu quả thi hành với toàn bộ “vòng đời” chính sách, từ khâu tham mưu xây dựng, ban hành đến tổ chức thi hành văn bản. Đồng thời, cần tiếp tục rà soát, lựa chọn các tiêu chí, nội dung đánh giá theo hướng tinh gọn, tránh chồng lấn, bảo đảm tính khả thi. Việc đánh giá phải gắn với từng văn bản cụ thể, kết hợp giữa các tiêu chí chung và tiêu chí đặc thù, giữa tiêu chí “cứng” và “mềm”; xây dựng hệ thống tiêu chí và các chỉ số đo lường tương ứng.
Phát biểu kết luận, Cục trưởng Hồ Quang Huy trân trọng cảm ơn ý kiến tâm huyết, sâu sắc của các chuyên gia, nhà khoa học; đồng thời Cục sẽ tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện, cụ thể hệ thống cơ chế, tiêu chí trên cơ sở tham vấn ý kiến chuyên gia. Việc xây dựng hệ thống cơ chế, tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành văn bản quy phạm pháp luật sau ban hành được kỳ vọng sẽ tạo lập một công cụ quản trị hiện đại, minh bạch, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật; kịp thời phát hiện, xử lý các “điểm nghẽn” trong thực tiễn, qua đó phục vụ tốt hơn người dân, doanh nghiệp và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Bùi Vân Anh