Thông cáo báo chí công tác tư pháp quý IV năm 2014

26/03/2015
 

I. KẾT QUẢ CÔNG TƯ PHÁP QUÝ IV VÀ KẾT QUẢ CÔNG TÁC TƯ PHÁP NĂM 2014

Trong Quý IV và năm 2014, Bộ Tư pháp đã triển khai đồng bộ, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm các mặt công tác, bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014. Sau đây là một số kết quả cụ thể:

1.1. Triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, Bộ Tư pháp đã rà soát được tổng số văn bản QPPL là 102.306 văn bản; số văn bản QPPL được kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, dừng thi hành hoặc ban hành mới để phù hợp với Hiến pháp là 282 văn bản. Riêng về quyền con người, trong tổng số 172 luật, pháp lệnh được rà soát thì tổng số luật, pháp lệnh được đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, ban hành mới là 36 văn bản. Bộ cũng tiếp tục giúp Hội đồng tư vấn thẩm định các dự án luật, pháp lệnh trực tiếp triển khai thi hành Hiến pháp duy trì hoạt động, tổ chức 14 phiên họp toàn thể để cho ý kiến đối với 12 dự án luật và 02 dự thảo Báo cáo rà soát triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013.

 Hưởng ứng Cuộc thi viết tìm hiểu Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam, nhiều Bộ, ngành, địa phương cũng đã tổ chức Lễ hưởng ứng Ngày pháp luật năm 2014 và phát động Cuộc thi (Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Thanh Hóa, Hòa Bình, Ninh Bình, Long An, TP Hồ Chí Minh, Quảng Nam…). Đến hết tháng 12/2014 đã có 61/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an ban hành Kế hoạch; thành lập Ban Tổ chức Cuộc thi và phát động hưởng ứng Cuộc thi.

1.2. Công tác xây dựng VBQPPL, góp ý, thẩm định VBQPPL được triển khai tích cực, góp phần nâng cao chất lượng và đẩy nhanh tiến độ soạn thảo dự thảo VBQPPL.

- Tính đến ngày 27/12/2014, Bộ Tư pháp đã thẩm định 300 dự thảo VBQPPL, góp ý 980 dự thảo văn bản, đề án (riêng quý IV năm 2014, Bộ Tư pháp đã thẩm định 83 dự thảo VBQPPL, góp ý 201 dự thảo văn bản, đề án) và chủ trì thẩm định 123 Điều ước quốc tế, góp ý 438 Điều ước quốc tế, trong đó có nhiều dự thảo Điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế có nội dung phức tạp như: dự thảo Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam với Liên minh châu Âu (EVFTA), Công ước về chống tra tấn…

- Năm 2014, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã ban hành 106 văn bản, giải quyết được 56 văn bản nợ của năm 2013 và 50 văn bản phát sinh trong năm 2014. Trong thời gian tới, với việc 12 Luật sẽ có hiệu lực từ 01/01/2015, thì các Bộ, cơ quan ngang Bộ phải ban hành 100 văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, trong đó có 18 văn bản ở trong tình trạng nợ đọng.

- Tính đến ngày 26/12/2014, Bộ Tư pháp đã tiến hành kiểm tra theo thẩm quyền 3.887 văn bản (gồm 884 văn bản cấp Bộ; 3.003 văn bản của địa phương). Kết quả bước đầu đã phát hiện 855 văn bản vi phạm các quy định tại Điều 3 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP (trong đó có 81 văn bản của cấp Bộ, 774 văn bản của địa phương), cụ thể như sau: về nội dung: 132 văn bản; về thẩm quyền: 32 văn bản; về hiệu lực: 72 văn bản; về hình thức văn bản: 15 văn bản; về căn cứ pháp lý, thể thức và kỹ thuật trình bày: 634 văn bản.

1.3. Đối với công tác kiểm soát TTHC, trong năm 2014, các Bộ, cơ quan đã hoàn thành việc đơn giản hoá thêm 203 TTHC đã được Chính phủ phê duyệt tại 25 Nghị quyết chuyên đề, đưa tổng số thủ tục đã hoàn thành đơn giản hoá lên 4.219 thủ tục. Bộ Tư pháp đã tham gia ý kiến đối với 958 TTHC quy định tại 108 dự thảo văn bản QPPL. Theo đó, đã đề nghị bỏ 109 sửa đổi 276 TTHC (chiếm 40% số TTHC quy định trong dự thảo); thẩm định 707 TTHC tại 88 văn bản QPPL quy định TTHC và đã đề nghị bỏ 108 và sửa đổi 378 TTHC không cần thiết, không hợp lý (chiếm 68,7% số TTHC quy định tại văn bản).

1.4. Kết quả công tác THADS hai tháng năm 2015 (tháng 10, 11/2014) cụ thể như sau:

- Về việc: Tổng số thụ lý là 365.214 việc, tăng 15.272 việc (4,36%) so với cùng kỳ năm 2014, trong đó: số cũ chuyển sang là 247.537 việc; số thụ lý mới là 117.677 việc, tăng 6.815 việc (6,15%) so với cùng kỳ năm 2014. Kết quả phân loại án: số có điều kiện giải quyết là 219.977 việc, tăng 2.378 việc (1,09%) so với cùng kỳ năm 2014 (chiếm 60,23% trong tổng số thụ lý, giảm 1,95% so với cùng kỳ năm 2014). Trong số có điều kiện giải quyết, đã giải quyết xong 66.732 việc, tăng 4.201 việc (6,72%) so với cùng kỳ năm 2014, đạt tỉ lệ 30,34% (tăng 1,60% so với cùng kỳ năm 2014). Số việc chuyển kỳ sau 298.482 việc, tăng 50.945 việc (20,58%) so với số chưa thi hành năm 2014 chuyển năm 2015.

- Về tiền: Tổng số thụ lý là 74.888 tỷ 369 triệu 612 nghìn đồng, tăng 19.304 tỷ 417 triệu 25 nghìn đồng (34,73%) so với cùng kỳ năm 2014, trong đó: số cũ chuyển sang là 56.103 tỷ 34 triệu 133 nghìn đồng; số thụ lý mới là 18.785 tỷ 335 triệu 479 nghìn đồng, tăng 4.770.788.151 nghìn đồng (34,04%) so với cùng kỳ năm 2014. Kết quả phân loại án: số có điều kiện giải quyết là 47.007 tỷ 826 triệu 797 nghìn đồng, tăng 11.526.201.081 nghìn đồng (32,48%) so với cùng kỳ năm 2014 (chiếm 62,77% trong tổng số thụ lý, giảm 1,06% so với cùng kỳ năm 2014). Trong số có điều kiện giải quyết, đã giải quyết xong 4.043 tỷ 975 triệu 316 nghìn đồng, tăng 1.732 tỷ 99 triệu 84 nghìn đồng (74,92%) so với cùng kỳ năm 2014; đạt tỉ lệ 8,60% (tăng 2,09% so với cùng kỳ năm 2014). Số tiền chuyển kỳ sau là 70.844 tỷ 394 triệu 296 nghìn đồng, tăng 14.741 tỷ 360 triệu 163 nghìn đồng (26,28%) so với số chưa thi hành xong năm 2014 chuyển năm 2015.

1.5. Công tác hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, nuôi con nuôi, lý lịch tư pháp, đăng ký giao dịch bảo đảm nhìn chung được thực hiện theo đúng quy định.

- Năm 2014, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thực hiện đăng ký khai sinh, khai sinh lại cho 2.478.785 trường hợp, trong đó có 4.408 trường hợp đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài; khai tử cho 511.773 trường hợp, trong đó có 722 trường hợp khai tử có yếu tố nước ngoài; đăng ký kết hôn cho 817.245 cặp, trong đó có 13.786 trường hợp có yếu tố nước ngoài.

- Năm 2014, Bộ Tư pháp rà soát, kiểm tra hồ sơ và tham mưu, đề xuất làm thủ tục trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định cho thôi, cho nhập và cho trở lại quốc tịch Việt Nam với 8.000 trường hợp từ các địa phương và Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài gửi về.

- Năm 2014, toàn quốc đã thực hiện được 6.046.863 việc chứng thực, 79.466.262 bản sao chứng thực, số lệ phí thu được gần 440 tỷ đồng.

- Năm 2014, toàn quốc đã giải quyết đăng ký nuôi con nuôi trong nước cho 2.843 trường hợp và giải quyết việc đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cho 470 trường hợp.

- Về công tác lý lịch tư pháp, tính từ ngày 01/01/2014 đến 31/10/2014, Bộ Tư pháp đã xử lý và đưa vào lưu trữ 65.655 hồ sơ lý lịch tư pháp; tiếp nhận 140 hồ sơ yêu cầu và đã cấp 129 Phiếu lý lịch tư pháp của người nước ngoài có thời gian cư trú tại Việt Nam (tăng 77 Phiếu so với cùng kỳ năm 2013). Năm 2014, các địa phương trên cả nước đã cấp 300.108 Phiếu lý lịch tư háp (Phiếu số 1 là 230.387 và Phiếu số 2 là 69.721).

- Tính từ ngày 01/01/2014 đến ngày 30/11/2014, các Trung tâm Đăng ký giao dịch bảo đảm đã tiếp nhận và giải quyết 233.913 đơn yêu cầu đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo kê biên tài sản thi hành án và văn bản thông báo về việc thế chấp phương tiện giao thông. Số đơn yêu cầu đăng ký và cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo kê biên tài sản thi hành án 189.887 đơn, so với cùng kỳ năm 2013 tăng gần 23.000 đơn, chiếm tỷ lệ 12%. Số lượng đơn yêu cầu đăng ký, cung cấp thông tin bằng hình thức trực tuyến là 89.961 đơn, đã tăng đáng kể so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm tỷ lệ 47,4% trên tổng số đơn yêu cầu.

1.6. Năm 2014, Bộ Tư pháp đã cấp 1.100 Chứng chỉ hành nghề luật sư, cấp 32 Giấy phép hành nghề tại Việt Nam cho luật sư nước ngoài, cấp 10 Giấy phép thành lập chi nhánh, công ty luật nước ngoài tại Việt Nam. Bộ cũng đã bổ nhiệm gần 600 công chứng viên, miễn nhiệm 17 trường hợp. Bộ đã cấp Giấy phép thành lập mới cho 03 Trung tâm trọng tài thương mại, theo ước tính, năm 2014 các tổ chức trọng tài đã tiếp nhận để giải quyết 674 vụ việc. Các tổ chức hành nghề công chứng đã công chứng được 3.453.722 hợp đồng, giao dịch, đóng góp cho Ngân sách nhà nước hoặc nộp thuế gần 300 tỷ đồng.

1.7. Liên quan đến vụ kiện nhà đầu tư Pháp (DialAsie) kiện Chính phủ Việt Nam trong dự án Bệnh viện quốc tế thận và lọc thận tại TP Hồ Chí Minh, ngày 17/11/2014, Hội đồng trọng tài tại Tòa trọng tài thường trực tại La Hay – Hà Lan đã ban hành Phán quyết Vụ kiện DialAsie với các nội dung chính như sau: Hội đồng trọng tài cho rằng không có bất kỳ một cơ quan nhà nước nào của Chính phủ Việt Nam vi phạm Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư Việt - Pháp, vi phạm pháp luật Việt Nam hoặc thực hiện bất kỳ một hành động sai trái nào; mọi hành động của Saigon Coop hoàn toàn tuân theo pháp luật Việt Nam và không thể quy các hoạt động của Saigon Coop là hành động của Chính phủ Việt Nam.

Từ những phân tích trên, Hội đồng trọng tài quyết định: (i) Hội đồng trọng tài có thẩm quyền xét xử các khiếu kiện của Nguyên đơn DialAsie; (ii) Tất cả các khiếu kiện của Nguyên đơn DialAsie đối với Chính phủ Việt Nam hoàn toàn bị bác bỏ; (iii) Mỗi bên phải trả một nửa chi phí trọng tài và tự chịu các chi phí về luật sư của mình theo quy định tại Điều 38 của Quy tắc trọng tài UNCITRAL.

Theo Phán quyết này, Hội đồng trọng tài đã bác bỏ toàn bộ các nội dung khiếu kiện của Nguyên đơn đối với Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Việt Nam không phải bồi thường cho Nguyên đơn DialAsie bất kỳ một khoản chi phí nào theo yêu cầu đòi bồi thường mà Nguyên đơn đã nêu trong Đơn khởi kiện. Đây là thắng lợi thứ hai của Chính phủ Việt Nam sau thắng lợi của Vụ kiện South Fork (đã có phán quyết vào tháng 12/2013). Trong bối cảnh Chính phủ Việt Nam đang là bị đơn trong một loạt các vụ kiện đầu tư quốc tế và một số nhà đầu tư đang đe dọa kiện Chính phủ Việt Nam thì thắng lợi trong Vụ kiện này đặc biệt có ý nghĩa quan trọng.

II. MỘT SỐ NỘI DUNG CỤ THỂ

1. Những định hướng cơ bản của dự án Luật Ban hành quyết định hành chính (QĐHC)

- Tạo cơ chế kiểm soát việc ban hành QĐHC nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, hợp lý, tính khả thi của QĐHC: Nhằm ngăn ngừa, hạn chế tối đa việc ban hành QĐHC trái pháp luật, dự thảo Luật đưa ra các quy định tạo cơ chế kiểm soát chặt chẽ tính hợp pháp trong toàn bộ quy trình ban hành QĐHC thông qua các nguyên tắc ban hành QĐHC (các điều kiện hủy bỏ, bãi bỏ, thu hồi QĐHC, điều kiện vô hiệu, có hiệu lực của QĐHC và hình thức của QĐHC...). Các quy định trong dự thảo Luật đồng thời tạo cơ chế hữu hiệu để các cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) giám sát các QĐHC của các cơ quan hành chính nhà nước, nhân dân có thể tham gia vào quá trình giám sát, kiểm soát tính hợp pháp, hợp lý, khả thi của các QĐHC, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.

- Các quy định bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; sự công bằng, công khai, minh bạch trong quá trình ban hành QĐHC: Các quy định của Luật được xây dựng theo hướng đảm bảo tính công khai, minh bạch, hiệu quả của quản lý hành chính, bảo vệ tốt hơn các quyền, lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân, lợi ích của Nhà nước; tạo điều kiện quan trọng trong việc bảo đảm chất lượng của một QĐHC, đây cũng là mục tiêu nền hành chính cần hướng tới trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền và thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ trong việc “bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội” (khoản 6 Điều 96 Hiến pháp).

- Các quy định bảo đảm sự gắn kết giữa việc ban hành QĐHC và thực thi QĐHC, sự gắn kết giữa việc ban hành Luật và thi hành Luật, tăng tính pháp chế trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước: Để bảo đảm sự gắn kết giữa việc ban hành QĐHC và thực thi QĐHC, dự thảo Luật quy định về các vấn đề liên quan đến thực thi QĐHC như đình chỉ, tạm đình chỉ, gia hạn, thu hồi, hủy bỏ...; quy định các nguyên tắc chung về khiếu nại, khiếu kiện, bồi thường thiệt hại nhằm khắc phục tình trạng QĐHC không được thực thi hoặc QĐHC không có hiệu lực thi hành trong nhiều năm vẫn không được bãi bỏ, hủy bỏ đã làm cho giảm đi hiệu lực của QĐHC, làm giảm hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước.

2. Về dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng

- Dự thảo Nghị định bao gồm các quy định về chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng; hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng Văn phòng công chứng; chính sách ưu đãi đối với Văn phòng công chứng thành lập tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; điều kiện về trụ sở của Văn phòng công chứng, v.v...

- Về chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng: Việc chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng nhằm tiếp tục thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng, phát triển mạnh Văn phòng công chứng, nhất là đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Việc chuyển đổi phải bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước và công chứng viên, viên chức, người lao động đang làm việc tại Phòng công chứng; bảo đảm tiếp tục duy trì, kế thừa hoạt động của Phòng công chứng được chuyển đổi; theo lộ trình, phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; đảm bảo tài sản của Nhà nước đang do Phòng công chứng quản lý, sử dụng được xử lý theo đúng quy định của pháp luật, không bị thất thoát trong quá trình chuyển đổi.

Việc chuyển đổi Phòng công chứng được thực hiện trong trường hợp Phòng công chứng đang tồn tại ở các địa bàn cấp huyện đã có mức độ xã hội hóa công chứng cao, tại đó, không cần thiết duy trì Phòng công chứng do Nhà nước đầu tư và quản lý mà có thể chuyển giao cho các công chứng viên ngoài Nhà nước đảm nhận việc quản lý để giảm đầu tư ngân sách và tinh gọn bộ máy nhà nước. Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có từ 05 Phòng công chứng trở lên, thì xây dựng Kế hoạch chuyển đổi các Phòng công chứng trình UBND cấp tỉnh phê duyệt.

Quyền nhận chuyển đổi Phòng công chứng được chuyển giao cho chính các công chứng viên đang làm việc tại Phòng công chứng với giá quyền nhận chuyển đổi Phòng công chứng đã được UBND cấp tỉnh phê duyệt. Trường hợp có các công chứng viên khác trên địa bàn đủ tiêu chuẩn thành lập hoặc tham gia thành lập Văn phòng công chứng thì tổ chức đấu giá quyền nhận chuyển đổi Phòng công chứng. Các công chứng viên đang làm việc tại Phòng công chứng dự kiến chuyển đổi có quyền ưu tiên.

3. Về dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản

Theo Luật Phá sản, thì Quản tài viên là cá nhân hành nghề quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản.

- Dự thảo Nghị định quy định trách nhiệm của Quản tài viên: Để đề cao trách nhiệm của Quản tài viên với tư cách là một nghề độc lập, dự thảo Nghị định quy định rõ trách nhiệm của Quản tài viên như: chấp hành các nguyên tắc hành nghề, quản lý, thanh lý tài sản; bảo mật thông tin mà mình biết được trong khi hành nghề; trau dồi kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp; mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp...

- Về trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề Quản tài viên, dự thảo Nghị định quy định theo hướng đơn giản hóa tối đa TTHC, nhưng vẫn bảo đảm tính chặt chẽ của công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động này. Bên cạnh đó, Dự thảo còn quy định luật sư nước ngoài đã được cấp Giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về luật sư và kiểm toán viên là người nước ngoài theo quy định của pháp luật về kiểm toán được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên. Quy định này nhằm thu hút những người giỏi về chuyên môn như các luật sư nước ngoài, kiểm toán viên nước ngoài đã được phép hành nghề tại Việt Nam tham gia vào hoạt động quản lý, thanh lý tài sản trong điều kiện quản lý, thanh lý tài sản là nghề mới xuất hiện ở Việt Nam, giúp Quản tài viên Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm nước ngoài trong quá trình hành nghề, đồng thời tạo thêm cơ hội cho Thẩm phán trong việc lựa chọn, chỉ định Quản tài viên phù hợp và có đủ năng lực thực hiện việc quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp bị phá sản.

- Về hành nghề quản lý, thanh lý tài sản, dự thảo Nghị định quy định hình thức hành nghề của Quản tài viên gồm hành nghề với tư cách cá nhân và thành lập hoặc tham gia thành lập hoặc làm việc theo hợp đồng cho doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và quy định cụ thể trình tự, thủ tục đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản theo hướng đơn giản hóa TTHC; quy định Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản và có trách nhiệm lập, công bố danh sách Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.

4. Một số điểm mới của Luật Hộ tịch

Luật Hộ tịch được Quốc hội khoá XIII thông qua ngày 20/11/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. Luật Hộ tịch là một đạo luật quan trọng liên quan đến việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có văn bản ở tầm Luật để quy định riêng về lĩnh vực hết sức quan trọng này.

So với quy định pháp luật hộ tịch hiện hành, Luật Hộ tịch có những nội dung mới mang tính đột phá; quy định ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong công tác hộ tịch, xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử để lưu giữ thông tin hộ tịch của cá nhân, kết nối, cung cấp thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; phân cấp mạnh mẽ toàn bộ thẩm quyền đăng ký hộ tịch cho UBND cấp huyện và cấp xã nhằm tạo điều kiện cho người dân, cũng như nâng cao hiệu quả quản lý của UBND cấp tỉnh trong công tác này; đơn giản hóa thủ tục, hồ sơ, giấy tờ trong đăng ký hộ tịch; chuẩn hóa và đề cao trách nhiệm đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch; có nhiều quy định nhằm hạn chế sai sót, vi phạm có thể xảy ra trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch như: bổ sung quy định cấm can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đăng ký hộ tịch, quy định chặt chẽ hơn về tiêu chuẩn công chức làm công tác hộ tịch; bổ sung những hành vi bị nghiêm cấm và xử lý vi phạm trong đăng ký và quản lý hộ tịch, đặc biệt là nghiêm cấm người có thẩm quyền quyết định đăng ký hộ tịch thực hiện việc đăng ký hộ tịch cho bản thân hoặc người thân thích. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định một số nội dung mới theo hướng mở ra cơ hội cho người dân có quyền lựa chọn phương thức và địa điểm phù hợp, thuận tiện nhất để thực hiện yêu cầu đăng ký hộ tịch, cá nhân có quyền lựa chọn cơ quan đăng ký hộ tịch cho mình mà không phải phụ thuộc vào nơi cư trú như hiện hành.

III. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM CÔNG TÁC TƯ PHÁP QUÝ I NĂM 2015

Trong Quý I năm 2015, Bộ Tư pháp tập trung hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp Quý I với một số nhiệm vụ chính như sau:

1. Tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015.

2. Tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả Kế hoạch của Chính phủ về triển khai thi hành Hiến pháp và tổ chức thành công cuộc thi viết “Tìm hiểu Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam”. Tham gia tích cực vào việc đóng góp ý kiến đối với các dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng XII, nhất là những vấn đề liên quan đến xây dựng Nhà nước pháp quyền, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp; tích cực tuyên truyền phục vụ Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

3. Tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai công tác tư pháp năm 2015; tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với dự án Bộ luật Dân sự (sửa đổi).

4. Chủ động triển khai để bảo đảm thực hiện đúng kế hoạch xây dựng các dự án luật, pháp lệnh trong Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015 (dự án Bộ luật dân sự (sửa đổi), Bộ luật hình sự (sửa đổi), Luật ban hành văn bản pháp luật, Luật ban hành quyết định hành chính, Luật tiếp cận thông tin, Luật đấu giá tài sản, Pháp lệnh đào tạo một số chức danh tư pháp, Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016); chủ động thực hiện các nhiệm vụ để ban hành kịp thời các văn bản quy định chi tiết thi hành các luật đã được Quốc hội thông qua.

5. Chuẩn bị tốt các điều kiện để thi hành kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết của Quốc hội liên quan đến công tác thi hành án dân sự, phấn đấu đạt hoặc vượt các chỉ tiêu do Quốc hội giao.

6. Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả Luật Hộ tịch; triển khai thực thiện tốt: Nghị định về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch và Chỉ thị số 17/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện TTHC.

7. Phối hợp với Liên đoàn Luật sư Việt Nam chuẩn bị tổ chức Đại hội Đại biểu Luật sư toàn quốc lần thứ II.

8. Phối hợp với Bộ Công an, Bộ Y tế để ký ban hành và tổ chức triển khai thực hiện Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện việc liên thông các TTHC: đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi.

9. Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động trong Kế hoạch hướng tới tổ chức kỷ niệm 70 năm Ngày Truyền thống Ngành Tư pháp Việt Nam và Đại hội thi đua yêu nước Ngành Tư pháp lần thứ IV./.