Nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL thông qua việc chuẩn hóa quy định về người thực hiện trợ giúp pháp lý

03/12/2018

 
Qua đánh giá tổng kết 08 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2006, cho thấy chất lượng vụ việc TGPL nhiều lúc còn chưa được bảo đảm, chưa chuyên nghiệp, do đó chưa được xã hội đánh giá cao. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó là do trình độ, năng lực của người thực hiện TGPL chưa cao. Nhận diện được vấn đề đó, Bộ Tư pháp đã xác định nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL là một trong những mục tiêu quan trọng, xuyên suốt từ khi triển khai Đề án đổi mới công tác TGPL giai đoạn 2015 - 2025 cho đến khi xây dựng và thông qua Luật TGPL năm 2017. Đặc biệt trong bối cảnh triển khai nguyên tắc tranh tụng theo Hiến pháp năm 2013, các luật, bộ luật tố tụng và Chiến lược cải cách tư pháp thì yêu cầu đặt ra phải nâng cao trình độ cho người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL là rất cần thiết. Để đạt được mục tiêu này, Luật TGPL năm 2017 đã có các quy định chuẩn hóa đội ngũ người thực hiện TGPL theo hướng chuyên nghiệp hóa, xã hội hóa nhằm cung cấp dịch vụ pháp lý kịp thời, có chất lượng cho người được TGPL. Theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Luật, người thực hiện TGPL bao gồm 04 nhóm chủ thể như sau: (1) Trợ giúp viên pháp lý, (2) luật sư thực hiện TGPL; (3) tư vấn viên pháp luật làm việc tại tổ chức tham gia TGPL; (4) cộng tác viên TGPL.
I. Tiêu chuẩn, điều kiện người thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý là Trợ giúp viên pháp lý
Điểm a khoản 1 Điều 17 quy định về trợ giúp viên pháp lý. Đây là chức danh được kế thừa từ Luật TGPL 2006 và đã được quy định đồng bộ trong các bộ luật, luật về tố tụng. Triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, các bộ luật, luật tố tụng đều đã ghi nhận vai trò của Trợ giúp viên pháp lý và có một số cơ chế bảo đảm quyền được TGPL, đặc biệt là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tại khoản 2 Điều 72, khoản 2 Điều 83 và khoản 2 Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đều đã ghi nhận vị trí pháp lý của trợ giúp viên pháp lý là người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự thuộc diện được TGPL. Điều 71 quy định cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụngtrách nhiệm giải thích cho người bị buộc tội, bị hại thuộc diện được TGPL quyền được TGPL, nếu họ đề nghị được TGPL thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo cho Trung tâm TGPL nhà nước. Bên cạnh đó, Bộ luật đã bổ sung cơ chế bảo đảm quyền được TGPL trong trường hợp chỉ định người bào chữa cho các trường hợp quy định tại Điều 76, cụ thể Trung tâm TGPL nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được TGPL mà lực lượng nòng cốt thực hiện TGPL của Trung tâm chính là các Trợ giúp viên pháp lý.
Thực tiễn những năm gần đây, sau khi triển khai thi hành Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 01/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới công tác TGPL giai đoạn 2015 - 2025, đội ngũ trợ giúp viên pháp lý ngày càng khẳng định được vai trò nòng cốt, là lực lượng chuyên trách trong việc thực hiện TGPL, nhất là tham gia tố tụng. Tại một số tỉnh miền núi, địa bàn khó khăn việc thực hiện các vụ việc tham gia tố tụng chủ yếu do Trợ giúp viên pháp lý thực hiện. Tỉ lệ vụ việc tham gia tố tụng do Trợ giúp viên pháp lý thực hiện cũng tăng theo từng năm, nếu năm 2014 Trợ giúp viên pháp lý thực hiện 3.896 vụ việc tham gia tố tụng trên tổng số 9.062 vụ việc tham gia tố tụng, chiếm tỉ lệ 43% thì tỉ lệ này năm 2015 đã tăng là 49,32% và năm 2016 là 74,24%.
Ngoài ra, trong quá trình xây dựng dự án Luật TGPL năm 2017 cũng có ý kiến đề nghị nghiên cứu việc chuyển đổi chức danh Trợ giúp viên pháp lý thành luật sư công. Tuy nhiên, nếu thay đổi từ tên gọi “trợ giúp viên pháp lý” thành “luật sư công” sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, không đồng bộ với Luật Luật sư, Luật Viên chức và các luật về tố tụng (sửa đổi) vừa mới ban hành. Chức danh Trợ giúp viên pháp lý cũng đã được ghi nhận trong các bộ luật, luật về tố tụng (Điều 72, Điều 83, Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 75 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 61 Luật Tố tụng hành chính năm 2015). Trong khi đó, Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước do đó theo Luật Luật sư sẽ không được hành nghề luật sư. Mặt khác, luật sư công theo pháp luật một số nước được hiểu là luật sư của Nhà nước có phạm vi hoạt động rộng là thực hiện những công việc do Nhà nước giao, trong đó có thể có hoạt động TGPL. Vì vậy mà trong Luật TGPL năm 2017 vẫn giữ lại chức danh Trợ giúp viên pháp lý và sẽ tiếp tục nghiên cứu, đề xuất trong giai đoạn mới.
a) Về tiêu chuẩn của Trợ giúp viên pháp lý
   Với quan điểm nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL và phát triển công tác này theo hướng chuyên nghiệp hóa, Luật đã chuẩn hóa, nâng cao tiêu chuẩn đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý như luật sư, cụ thể:
Điều 19 Luật quy định về tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý, theo đó, công dân Việt Nam là viên chức của Trung tâm TGPL nhà nước có đủ tiêu chuẩn sau đây có thể trở thành trợ giúp viên pháp lý: (1) Có phẩm chất đạo đức tốt; (2) Có trình độ cử nhân luật trở lên; (3) Đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự TGPL; (4) Có sức khỏe bảo đảm thực hiện TGPL; (5) Không đang trong thời gian bị xử lý kỷ luật. Các tiêu chuẩn này được quy định trên cơ sở kế thừa tinh thần quy định tiêu chuẩn của trợ giúp viên pháp lý tại Điều 21 Luật TGPL 2006 và có sửa đổi, bổ sung trên cơ sở nâng cao điều kiện, tiêu chuẩn của đội ngũ này. Cụ thể, Luật đã sửa đổi tiêu chuẩn “có bằng cử nhân luật” thành “có bằng cử nhân luật trở lên” nhằm tạo điều kiện cho những người là thạc sỹ, tiến sĩ luật nhưng không có bằng cử nhân luật làm trợ giúp viên pháp lý, thu hút được những người có kiến thức pháp luật vào công tác này. Ngoài ra còn bổ sung 01 điểm mới về điều kiện, tiêu chuẩn để trở thành trợ giúp viên pháp lý, đó là “đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự TGPL” bởi để nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL thì trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm của người thực hiện TGPL là điều kiện tiên quyết và quan trọng nhất. Xét về tính chất nghề nghiệp, hoạt động của trợ giúp viên pháp lý tương đồng với hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư, cần có thời gian thực hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp để có thể đảm nhận tốt nhiệm vụ khi được chính thức cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý[1].
Đồng thời, với tư cách là một dịch vụ pháp lý tương đương thì việc tập sự TGPL được quy định tương tự như tập sự hành nghề luật sư. Điều 20 Luật TGPL quy định về tập sự TGPL để trợ giúp viên pháp lý thực hành, áp dụng các kiến thức pháp luật và kỹ năng được đào tạo. Theo đó, viên chức của Trung tâm TGPL nhà nước có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư theo quy định của Luật Luật sư được tập sự TGPL tại Trung tâm TGPL nhà nước. Thời gian tập sự TGPL là 12 tháng. Trung tâm TGPL nhà nước phân công trợ giúp viên pháp lý hướng dẫn người tập sự TGPL và xác nhận việc tập sự TGPL. Trợ giúp viên pháp lý hướng dẫn tập sự phải có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm trợ giúp viên pháp lý. Tại cùng một thời điểm, 01 trợ giúp viên pháp lý không được hướng dẫn tập sự quá 02 người. Quy định về thời gian tập sự và số năm kinh nghiệm của trợ giúp viên pháp lý hướng dẫn tập sự tương tự như luật sư bởi hoạt động TGPL có tính tương đồng với hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư. Luật luật sư quy định tại cùng một thời điểm, 01 luật sư không được hướng dẫn tập sự quá 03 người. Tuy nhiên, trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước nên việc quy định 01 trợ giúp viên pháp lý không được hướng dẫn tập sự quá 02 người tại cùng một thời điểm là phù hợp với pháp luật về viên chức (Điều 21 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/04/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức).
 Người tập sự TGPL được giúp trợ giúp viên pháp lý hướng dẫn trong hoạt động nghề nghiệp nhưng không được đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL tại phiên tòa; không được ký văn bản tư vấn pháp luật. Người tập sự TGPL được cùng với trợ giúp viên pháp lý hướng dẫn gặp gỡ người được TGPL và đương sự khác trong vụ việc TGPL khi được người đó đồng ý; giúp trợ giúp viên pháp lý nghiên cứu hồ sơ vụ việc, thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ việc và các hoạt động nghề nghiệp khác. Trợ giúp viên pháp lý hướng dẫn tập sự giám sát và chịu trách nhiệm về các hoạt động của người tập sự TGPL nêu trên. Người thuộc trường hợp được miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư theo quy định của Luật Luật sư thì được miễn, giảm thời gian tập sự TGPL. Các quy định chi tiết việc tập sự, kiểm tra kết quả tập sự TGPL và mẫu Giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự TGPL được Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định từ các Điều 23 - Điều 32 tại Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15/11/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật TGPL và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động TGPL.
Ngoài ra, để tạo điều kiện cho những người đã được bổ nhiệm làm trợ giúp viên pháp lý theo Luật TGPL năm 2006 đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định của Luật, khoản 1 Điều 48 quy định chuyển tiếp như sau: “sau 05 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, người được bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý không có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư thì bị thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý”.
b) Về bổ nhiệm, cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý
Điều 21 Luật quy định về việc bổ nhiệm, cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý, cụ thể như sau: Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước lập danh sách những người làm việc ở Trung tâm có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 19 của Luật gửi Sở Tư pháp đề nghị bổ nhiệm, cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được danh sách người được đề nghị bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý, Giám đốc Sở Tư pháp lập hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Quy định về thời hạn để Giám đốc Sở Tư pháp lập hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý.
Về hồ sơ đề nghị bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý bao gồm các giấy tờ để chứng minh người đó có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 19 Luật, cụ thể như sau: (1) Văn bản của Giám đốc Sở Tư pháp đề nghị bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý; (2) Lý lịch trích ngang của người được đề nghị bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý; (3) 02 ảnh màu chân dung cỡ 2 cm x 3 cm; (4) Bản sao có chứng thực Bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật, Bằng thạc sĩ luật hoặc Bằng tiến sĩ luật; (5) Bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư hoặc Giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự TGPL; trường hợp được miễn tập sự TGPL thì phải có bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh là người được miễn tập sự TGPL và (6) Giấy chứng nhận sức khỏe. Về thời hạn và thẩm quyền bổ nhiệm, cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định bổ nhiệm và cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Bên cạnh đó, Luật còn quy định người đã bị miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp không còn đủ tiêu chuẩn làm trợ giúp viên pháp lý quy định tại Điều 19 của Luật; chuyển công tác khác hoặc thôi việc theo nguyện vọng; đang bị cấm hành nghề trong thời gian nhất định theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền được xem xét bổ nhiệm, cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý khi đáp ứng đủ tiêu chuẩn của trợ giúp viên pháp lý quy định tại Luật và lý do miễn nhiệm, thu hồi thẻ không còn.
c) Về miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý, cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý
- Về miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý
Điều 22 Luật quy định về miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Theo đó, trợ giúp viên pháp lý bị miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý trong các trường hợp: (1) không còn đủ tiêu chuẩn làm trợ giúp viên pháp lý quy định tại Điều 19 của Luật này; (2) bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc; (3) chuyển công tác khác hoặc thôi việc theo nguyện vọng; (4) không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong thời gian 02 năm liên tục, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan; (5) bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo từ lần thứ 02 trở lên hoặc cách chức do thực hiện hành vi quy định tại điểm a, b, đ hoặc e khoản 1 Điều 6 của Luật TGPL; (6) đang bị cấm hành nghề trong thời gian nhất định theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Giám đốc Sở Tư pháp lập hồ sơ gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý đối với người thuộc một trong các trường hợp nêu trên.
Hồ sơ đề nghị miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý bao gồm: (1) Văn bản của Giám đốc Sở Tư pháp đề nghị; (2) giấy tờ, tài liệu chứng minh trợ giúp viên pháp lý thuộc một trong các trường hợp bị miễn nhiệm. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý.
Một trong những quan điểm sửa đổi Luật TGPL lần này là ưu tiên tập trung cho hoạt động TGPL thông qua hình thức tham gia tố tụng nhằm trợ giúp cho người được TGPL bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình tố tụng. Với tinh thần đó, tất cả các trợ giúp viên pháp lý đều phải tham gia thực hiện các vụ việc tham gia tố tụng và kết quả thực hiện sẽ là cơ sở để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của trợ giúp viên pháp lý. Vì vậy, nếu trong 02 năm liên tục mà Trợ giúp viên pháp lý không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan thì cũng phản ánh năng lực của trợ giúp viên pháp lý không còn phù hợp với công việc và không cần tiếp tục làm trợ giúp viên pháp lý. Đây là một trong những chế tài đưa ra nhằm yêu cầu đội ngũ trợ giúp viên pháp lý cần tập trung vào việc nâng cao trình độ, kỹ năng để tham gia tố tụng - là một công việc khó, đòi hỏi tính chuyên môn, kỹ năng và bản lĩnh nghề nghiệp cao, phản ánh đúng bản chất “nghề” của hoạt động TGPL và trợ giúp viên pháp lý.
- Về cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý
Điều 23 Luật TGPL quy định về cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý. Đây là điều mới so với Luật TGPL năm 2006 xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, theo đó có 02 trường hợp được cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý là bị mất hoặc bị hư hỏng. Thủ tục cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý được thực hiện như sau: Người đề nghị cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý gửi đơn đề nghị đến Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước. Sau khi nhận được đơn của người đề nghị cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý, Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước lập hồ sơ gửi Giám đốc Sở Tư pháp. Hồ sơ đề nghị cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý bao gồm: (1) đơn đề nghị cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý; (2) 02 ảnh màu chân dung cỡ 2 cm x 3 cm; (3) thẻ trợ giúp viên pháp lý bị hư hỏng hoặc xác nhận của Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước trong trường hợp thẻ bị mất. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Giám đốc Sở Tư pháp trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý là Luật sư
Điểm b khoản 1 Điều 17 quy định luật sư thực hiện TGPL theo hai phương thức: (1) theo hợp đồng với Trung tâm TGPL nhà nước và (2) theo phân công của tổ chức tham gia TGPL nhằm tiếp tục ghi nhận sự tham gia hiệu quả của đội ngũ luật sư vào công tác TGPL.
- Luật sư thực hiện TGPL theo hợp đồng với Trung tâm TGPL nhà nước: Đây là sự kế thừa từ Luật TGPL 2006 quy định luật sư tham gia TGPL với tư cách cá nhân là cộng tác viên. Tuy nhiên, với mục tiêu xuyên suốt toàn bộ các quy định của Luật TGPL năm 2017 là nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL hướng đến bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL, dịch vụ TGPL phải được thực hiện bởi những chủ thể có đủ năng lực, trình độ và kỹ năng hành nghề. Do đó, ngoài việc căn cứ vào nhu cầu TGPL, nguồn lực thực hiện TGPL tại địa phương, Luật TGPL 2017 còn quy định các điều kiện của luật sư để Trung tâm TGPL nhà nước lựa chọn, ký hợp đồng như: (1) không đang trong thời gian thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư; (2) không bị cấm hành nghề hoặc bị hạn chế hoạt động nghề nghiệp theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; (3) không đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự và (4) được sự đồng ý bằng văn bản của tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư đang làm việc hoặc cơ quan, tổ chức mà luật sư ký kết hợp đồng lao động (khoản 3 Điều 14). Luật sư ký kết hợp đồng thực hiện TGPL với Trung tâm TGPL nhà nước được hưởng thù lao và chi phí thực hiện vụ việc TGPL theo quy định (khoản 3 Điều 18).
- Luật sư thực hiện TGPL theo phân công của tổ chức tham gia TGPL: luật sư có thể thực hiện TGPL theo phân công của tổ chức đăng ký tham gia TGPL hoặc tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL. Như vậy, so với Luật TGPL 2006, chức danh này có sự kế thừa quy định người thực hiện TGPL là luật sư làm việc tại các tổ chức đăng ký tham gia TGPL, họ thực hiện TGPL tự nguyện, miễn phí cho người được TGPL và không được Nhà nước hỗ trợ kinh phí để thực hiện vụ việc TGPL. Còn Khi luật sư làm việc tại tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL thì tổ chức đó được Nhà nước hỗ trợ kinh phí thực hiện vụ việc TGPL, đây là điểm mới so Luật TGPL 2006 nhằm khuyến khích, thu hút các tổ chức xã hội tham gia thực hiện TGPL.
Tính đến tháng 6/2018, trên cả nước có 4.028 tổ chức hành nghề luật sư (trong đó có 2.367 văn phòng luật sư, 1.661 công ty luật), 12.569 luật sư với nhiều lĩnh vực hoạt động, nhiều sở trường và các trình độ khác nhau, do đó tạo ra sự đa dạng trong việc cung cấp dịch vụ TGPL. Đội ngũ này sẽ bổ sung cho lực lượng người thực hiện TGPL của Nhà nước, nhất là trong bối cảnh biên chế, nguồn lực Nhà nước còn hạn chế như hiện nay thì việc huy động đội ngũ người có kinh nghiệm, có trình độ, hoạt động đa dạng như luật sư là rất cần thiết, đặc biệt là những lĩnh vực đòi hỏi kỹ năng cung cấp dịch vụ TGPL cho đối tượng đặc thù như HIV, người khuyết tật... Tuy nhiên, cần khẳng định là không thể giao tất cả công việc thực hiện TGPL cho đội ngũ luật sư thực hiện, bởi việc tham gia TGPL không phải là công việc chính của họ, thù lao chi trả cũng còn mức độ hoặc đăng ký TGPL tự nguyện, thỏa thuận không phải là bắt buộc sẽ không tạo sự ổn định, đặc biệt là tại các vùng sâu, vùng xa, nơi có rất ít luật sư sẽ không bảo đảm quyền được TGPL cho người dân. Ở nước ta, đội ngũ luật sư cũng phân bổ không đồng đều, chủ yếu tập trung tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và thực tế cho thấy rằng, ở những địa phương vùng núi, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, thì đội ngũ luật sư ít phát triển, nơi đó đội ngũ người thực hiệnTGPL của nhà nước phát triển và giữ vai trò nòng cốt, có nơi thực hiện gần hoàn toàn số lượng vụ việc tham gia tố tụng (như Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên...).
Để hướng dẫn về cách thức lựa chọn, ký kết hợp đồng thực hiện TGPL giữa Trung tâm TGPL nhà nước với Luật sư, cộng tác viên TGPL, ngày 15/11/2017, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 08/2017/TT-BTP quy định chi tiết về vấn đề hợp đồng thực hiện TGPL đã được Luật TGPL năm 2017 giao. Cụ thể:
Quy trình lựa chọn gồm 4 bước: (1) Xác định số lượng luật sư; tổ chức ký hợp đồng; (2) Thành lập tổ đánh giá; (3) Thông báo lựa chọn; (4) Đánh giá hồ sơ và ký hợp đồng.
Bước 1: Xác định số lượng luật sư dự kiến ký hợp đồng
Các căn cứ xác định bao gồm: (1) Kết quả thực hiện vụ việc TGPL năm trước; (2) Số lượng trợ giúp viên pháp lý; (3) Số lượng luật sư đã ký hợp đồng; (4) Số lượng vụ án được xét xử của năm trước; (5) Tổng số người được TGPL; (6) Dân số địa phương; (7) Các nội dung khác có tác động tới công tác TGPL tại địa phương.
Sau khi xác định được số lượng luật sư dự kiến ký hợp đồng, công việc tiếp theo Trung tâm cần thực hiện:
+ Xây dựng các điều kiện lựa chọn dựa trên: Quy định tại Luật TGPL (khoản 3 và khoản 5 Điều 14) hoặc và các điều kiện khác phù hợp với địa phương (ví dụ: kinh nghiệm của luật sư, số lượng vụ việc đã thực hiện.., số lượng luật sư làm việc tại tổ chức....
+ Xây dựng dự thảo hợp đồng thực hiện TGPL với các nội dung cơ bản: Đối tượng, phạm vi, hình thức, lĩnh vực TGPL; trách nhiệm của các bên trong thực hiện hợp đồng; thời hạn của hợp đồng; thù lao, chi phí thực hiện vụ việc TGPL; sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng; cơ chế giải quyết tranh chấp và trách nhiệm vi phạm hợp đồng; các thỏa thuận khác (nếu có).
Bước 2: Thành lập tổ đánh giá: Giám đốc Trung tâm thành lập tổ đánh giá gồm từ 03 - 05 thành viên trong đó, Lãnh đạo Trung tâm làm Tổ trưởng; Đại diện của Đoàn luật sư; Các thành viên khác do Giám đốc Trung tâm quyết định. Các thành viên tổ đánh giá phải bảo đảm có kiến thức pháp luật; am hiểu hoạt động TGPL.
Các công việc tổ đánh giá cần triển khai thực hiện: Xây dựng cách thức đánh giá (Đánh giá tính hợp lệ của Hồ sơ theo thời hạn nộp và có đầy đủ các tài liệu theo yêu cầu; cho điểm các hồ sơ đạt theo các tiêu chí); xây dựng tiêu chí đánh giá trên cơ sở các điều kiện lựa chọn; xây dựng thang điểm đánh giá bảo đảm có điểm tối thiểu và tối đa theo tiêu chí đánh giá; xây dựng tiêu chí ưu tiên xếp thứ tự trong trường hợp bằng điểm nhau; dự kiến yêu cầu về Hồ sơ theo nội dung điều 6; cách thức niêm phong...; dự kiến thời hạn nộp hồ sơ, thời điểm nộp hồ sơ, địa điểm nộp hồ sơ.. ; xây dựng thông báo lựa chọn trình Giám đốc Trung tâm ký. Thông báo được đăng trên Trang thông tin điện tử Sở Tư pháp ít nhất 5 ngày trước ngày đầu tiên nộp hồ sơ; tiếp nhận hồ sơ do tổ chức, cá nhân nộp.; bảo quản Hồ sơ nhận cho đến khi tiến hành đánh giá; các thành viên đánh giá độc lập và chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá; tổ trưởng tổ đánh giá tổng hợp kết quả đánh giá của các thành viên và xếp thứ tự từ cao xuống thấp theo số điểm đạt được. Bảng tổng hợp kết quả đánh giá phải có chữ ký của các thành viên; trình lãnh đạo Trung tâm kết quả đánh giá.     
Bước 3: Thông báo lựa chọn: Thông báo về việc lựa chọn ký kết hợp đồng được đăng trên Trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp để các luật sư biết và đăng ký tham gia. Nội dung cơ cơ bản của Thông báo: Số lượng luật sư, tổ chức dự kiến lựa chọn; điều kiện ký hợp đồng thực hiện TGPL; cách thức, tiêu chí, thang bảng điểm đánh giá hồ sơ; yêu cầu về hồ sơ; địa điểm, thời hạn nộp hồ sơ (tối thiểu là 20 ngày kể từ ngày thông báo được đăng tải; các yêu cầu khác (nếu có). Dự thảo hợp đồng thực hiện TGPL phải được đăng tải kèm theo Thông báo. Thời hạn thông báo: 05 làm việc ngày trước đầu ngày nộp Hồ sơ. Thời điểm hết hạn nộp Hồ sơ là 20 ngày kể từ ngày thông báo được đăng tải.
Bước 4: Đánh giá hồ sơ và ký hợp đồng: Đánh giá hồ sơ lựa chọn: việc đánh giá hồ sơ phải được tiến hành trong thời hạn 15 ngày từ ngày hết hạn nộp Hồ sơ. Có thể kéo dài thêm 05 ngày làm việc. Tiến hành đánh giá: (1) Đánh giá tính hợp lệ: Các thành viên tiến hành đánh giá các hồ sơ của cá nhân đã nộp theo các tiêu chí đã được phê duyệt. Mỗi thành viên lần lượt đánh giá đạt hoặc không đạt vào phiếu với từng cá nhân nộp hồ sơ lựa chọn. Tổ trưởng tổng hợp kết quả của các thành viên; (2) Đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu, chỉ đánh giá nhưng hồ sơ đạt yêu cầu  theo tiêu chí đã quy định.
Cách thức đánh giá: Các thành viên tiến hành cho điểm vào phiếu đánh giá theo bảng điểm được phê duyệt. Mỗi thành viên lần lượt cho điểm vào 01 phiếu đối với từng cá nhân nộp hồ sơ lựa chọn (01 hồ sơ tương ứng với 01 phiếu điểm của 01 thành viên tổ đánh giá). Tổ trưởng tổng hợp kết quả của các thành viên và xếp thứ tự theo số điểm đạt được từ cao xuống thấp.
Thông báo kết quả lựa chọn và ký hợp đồng: Trung tâm thông báo kết quả đến các cá nhân đã nộp hồ sơ. Các cá nhân có số điểm trên 50 sẽ được lựa chọn từ cao xuống thấp cho đến hết số lượng dự kiến lựa chọn. Thời hạn 10 ngày kể từ ngày thông báo, cá nhân được lựa chọn có trách nhiệm đến Trung tâm ký hợp đồng. Trường hợp không ký hợp đồng, Trung tâm chọn cá nhân tiếp theo liền kề với cá nhân cuối cùng trong danh sách ban đầu và có số điểm trên 50 để ký hợp đồng. Trường hợp không còn tiếp theo liền kề với cá nhân cuối cùng trong danh sách ban đầu và có số điểm trên 50 để ký hợp đồng thì tiến hành lựa chọn lại.
3. Người thực hiện trợ giúp pháp lý là Tư vấn viên pháp luật
Điểm c khoản 1 Điều 17 quy định về tư vấn viên pháp luật. Chức danh này kế thừa từ Luật TGPL 2006 song để nâng cao chất lượng TGPL, Luật quy định phải có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên và phải làm việc tại tổ chức tham gia TGPL (bao gồm tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL và tổ chức đăng ký tham gia TGPL). Nếu họ là thành viên tổ chức đăng ký tham gia TGPL thì họ sẽ thực hiện TGPL tự nguyện, miễn phí cho người được TGPL và không được Nhà nước hỗ trợ kinh phí để thực hiện vụ việc TGPL. Khi tư vấn viên pháp luật làm việc tại tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL thì tổ chức đó được Nhà nước hỗ trợ kinh phí thực hiện vụ việc TGPL.
4. Người thực hiện trợ giúp pháp lý là Cộng tác viên trợ giúp pháp lý
Đây là đối tượng được bàn luận, cân nhắc nhiều trong quá trình xây dựng Luật TGPL 2017. Xuất phát từ thực trạng đội ngũ cộng tác viên TGPL theo Luật TGPL năm 2006 còn nhiều vấn đề bất cập, hạn chế như: trình độ cộng tác viên TGPL không đồng đều, kể cả những người không có trình độ đại học luật như già làng, trưởng bản... cũng được thực hiện TGPL. Số lượng cộng tác viên tuy đông nhưng tỷ lệ tham gia thực hiện TGPL trên thực tế còn hạn chế, nhiều người đã được cấp thẻ cộng tác viên, được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng TGPL nhưng không thực hiện TGPL. Sau 09 năm thi hành Luật TGPL 2006 (từ năm 2007 - 2015), phần lớn các vụ việc tư vấn do cộng tác viên khác thực hiện là giải đáp vướng mắc pháp luật đơn giản, được thực hiện chủ yếu thông qua TGPL lưu động. Do đó, có nhiều ý kiến đề nghị không quy định cộng tác viên TGPL là người thực hiện TGPL, bởi vì những yếu tố tích cực đã được kế thừa thành trong chế định người thực hiện TGPL (luật sư và tư vấn viên pháp luật).
Tuy nhiên, sau khi cân nhắc đến các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, cùng với định hướng tập trung vào vụ việc TGPL và nâng cao chất lượng dịch vụ, Luật TGPL năm 2017 đã tiếp tục quy định điều kiện, tiêu chuẩn của người có thể làm cộng tác viên TGPL theo hướng nâng cao trên cơ sở chọn lọc những người có trình độ chuyên môn về pháp luật, có kinh nghiệm và có thời gian để bảo đảm tham gia công tác TGPL một cách thực chất, hiệu quả. Tại Điều 24 Luật quy định về cộng tác viên TGPL, theo đó, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ nhu cầu TGPL của người dân và điều kiện thực tế tại địa phương, Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước đề nghị Giám đốc Sở Tư pháp cấp thẻ cộng tác viên TGPL. Về điều kiện: những người đã nghỉ hưu, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe, có nguyện vọng thực hiện TGPL có thể trở thành cộng tác viên TGPL, bao gồm: trợ giúp viên pháp lý; thẩm phán, thẩm tra viên ngành Tòa án; kiểm sát viên, kiểm tra viên ngành kiểm sát; điều tra viên; chấp hành viên, thẩm tra viên thi hành án dân sự; chuyên viên làm công tác pháp luật tại các cơ quan nhà nước. Đây là những người có kiến thức pháp luật, có kinh nghiệm thực tiễn, không còn làm việc tại các cơ quan, đơn vị nên chủ động về thời gian trong việc thực hiện TGPL. Đối với cộng tác viên không thực hiện TGPL trong thời gian 02 năm liên tục, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan, Giám đốc Trung tâm đề nghị Giám đốc Sở Tư pháp thu hồi thẻ cộng tác viên TGPL. Cộng tác viên TGPL ký kết hợp đồng thực hiện TGPL với Trung tâm TGPL nhà nước được hưởng thù lao và chi phí thực hiện vụ việc TGPL theo quy định (khoản 3 Điều 18).
Thủ tục cấp thẻ cộng tác viên TGPL được quy định tại Điều 16 Nghị định số 14/2017/NĐ-CP, theo đó: Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 2 Điều 24 của Luật TGPL, nếu có nguyện vọng làm cộng tác viên TGPL và nhất trí với các nội dung cơ bản của hợp đồng thực hiện TGPL theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp thì gửi 01 bộ hồ sơ đến Trung tâm ở địa phương nơi mình cư trú. Hồ sơ đề nghị làm cộng tác viên bao gồm: (1) Đơn đề nghị làm cộng tác viên theo mẫu; (2) Giấy tờ chứng minh là người đã nghỉ hưu theo quy định; (3) Sơ yếu lý lịch cá nhân có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú và 02 ảnh màu chân dung cỡ 2 cm x 3 cm. Việc nộp hồ sơ đề nghị làm cộng tác viên được thực hiện như sau: Trường hợp nộp trực tiếp tại trụ sở Trung tâm, người đề nghị làm cộng tác viên nộp các giấy tờ (1), (3) và xuất trình bản chính hoặc nộp bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh là người đã nghỉ hưu theo quy định. Trường hợp gửi hồ sơ qua dịch vụ bưu chính, người đề nghị làm cộng tác viên gửi các giấy tờ (1), (3) và bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh là người đã nghỉ hưu theo quy định. Trường hợp gửi qua fax, hình thức điện tử, người đề nghị làm cộng tác viên gửi đầy đủ 03 loại giấy tờ đến Trung tâm. Trong thời hạn 04 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, căn cứ vào nhu cầu TGPL của người dân và điều kiện thực tế tại địa phương, Giám đốc Trung tâm lựa chọn hồ sơ trình Giám đốc Sở Tư pháp xem xét cấp thẻ cộng tác viên. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì trả lại hồ sơ cho người đề nghị làm cộng tác viên và thông báo rõ lý do bằng văn bản. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ do Giám đốc Trung tâm trình, Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, quyết định cấp thẻ cộng tác viên theo mẫu do Bộ Tư pháp ban hành. Bộ Tư pháp cấp phôi thẻ cộng tác viên. Trường hợp từ chối phải thông báo rõ lý do bằng văn bản cho người đề nghị làm cộng tác viên. Người bị từ chối có quyền khiếu nại đối với việc từ chối cấp thẻ cộng tác viên. Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại.
Tại Điều 8 Thông tư số 08/2017/TT-BTP cũng đã quy định trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp thẻ, cộng tác viên TGPL có trách nhiệm đến Trung tâm để ký hợp đồng thực hiện TGPL, trừ trường hợp có lý do chính đáng.
II. Quyền và nghĩa vụ của người thực hiện trợ giúp pháp lý
Quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPL được Luật TGPL năm 2017 quy định tại Điều 18. Theo đó, người thực hiện TGPL có 08 quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Thực hiện TGPL: Điều này khẳng định người thực hiện TGPL cần phải thực hiện chức trách, nhiệm vụ chính của mình. Quy định đây là nghĩa vụ của người thực hiện TGPL góp phần đưa công tác TGPL đi đúng trọng tâm, bản chất của TGPL, không chồng lấn sang các dịch vụ pháp lý khác.
- Được bảo đảm thực hiện TGPL độc lập, không bị đe dọa, cản trở, sách nhiễu hoặc can thiệp trái pháp luật” nhằm bảo đảm cho hoạt động TGPL của người thực hiện TGPL được thuận lợi, đồng thời thực hiện nguyên tắc độc lập trong quá trình thực hiện các hoạt động tác nghiệp đã quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật.
- Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện TGPL theo quy định Luật TGPL và theo pháp luật về tố tụng để bảo đảm vụ việc TGPL được thực hiện một cách chất lượng, tránh những yếu tố ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL.
- Được bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ TGPL, nhằm bảo đảm người thực hiện TGPL được cập nhật kiến thức pháp luật nói chung cũng như kiến thức, kỹ năng về TGPL nói riêng.
- Bảo đảm chất lượng vụ việc TGPL, để tăng cường trách nhiệm của người thực hiện TGPL trong việc thực hiện TGPL nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL.
- Tuân thủ nguyên tắc hoạt động TGPL. Nguyên tắc hoạt động TGPL đã được quy định đầy đủ ở Điều 3 Luật TGPL bao gồm: (1) tuân thủ pháp luậ và quy tắc nghề nghiệp TGPL; (2) kịp thời, độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan; (3) bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL; (4) không thu tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ người được TGPL.
- Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy nơi thực hiện TGPL, bao gồm nội quy tại tổ chức thực hiện TGPL, cơ quan tiến hành tố tụng hoặc tại các cơ quan, tổ chức khác mà người thực hiện TGPL cung cấp dịch vụ tại đó.
- Bồi thường hoặc hoàn trả một khoản tiền cho tổ chức thực hiện TGPL đã trả cho người bị thiệt hại do lỗi của mình gây ra khi thực hiện TGPL theo quy định của pháp luật, nhằm nâng cao tính trách nhiệm của người thực hiện TGPL trong quá trình thực hiện TGPL nói chung, đồng thời phù hợp với pháp luật về viên chức.
Ngoài những quyền nói chung của người thực hiện TGPL đã được quy định tại Khoản 1 Điều 18 Luật TGPL nêu trên, Trợ giúp viên pháp lý còn có các quyền và nghĩa vụ sau: (1) tham gia các khóa tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ TGPL, đây là nghĩa vụ cũng là một giải pháp để nâng cao kiến thức, kỹ năng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL; (2) thực hiện các nhiệm vụ khác được phân công và (3) được hưởng chế độ, chính sách theo quy định.
Tại Điều 4 Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018, đã quy định thời gian tham gia tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng bắt buộc của Trợ giúp viên pháp lý tối thiểu là 08 giờ/năm. Các nội dung tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng bắt buộc cho Trợ giúp viên pháp lý bao gồm: Kiến thức pháp luật cần thiết cho việc thực hiện TGPL; các kỹ năng thực hiện TGPL; quy tắc nghề nghiệp TGPL. Đây vừa là nghĩa vụ, đồng thời vừa là quyền của Trợ giúp viên pháp lý, tạo thuận lợi, linh hoạt để họ tự lựa chọn việc tham gia các lớp tập huấn phù hợp nhu cầu của bản thân bổ sung kiến thức, kỹ năng hành nghề cần thiết, nâng cao trình độ, cung cấp dịch vụ TGPL ngày càng có chất lượng hơn nữa cho người được TGPL.
Tại Điều 11 Nghị định số 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 đã quy định các chế độ, chính sách đối với Trợ giúp viên pháp lý, cụ thể: (1) Trợ giúp viên pháp lý có các chức danh nghề nghiệp viên chức theo quy định của pháp luật; (2) Trợ giúp viên pháp lý được hưởng phụ cấp trách nhiệm theo nghề bằng 25% mức lương hiện hưởng cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp vượt khung (nếu có); (3) Trợ giúp viên pháp lý được cấp trang phục riêng theo tiêu chuẩn, niên hạn sau đây: Quần áo vest: cấp 02 năm/01 lần, lần đầu được cấp 02 bộ, các lần sau mỗi lần 01 bộ; áo sơ mi dài tay: cấp hàng năm, lần đầu được cấp 02 cái, các lần sau mỗi lần 01 cái; quần áo xuân hè: cấp hàng năm, lần đầu được cấp 02 bộ, các lần sau mỗi lần 01 bộ; giầy da: 01 đôi/01 năm; dép quai hậu: 01 đôi/01 năm; thắt lưng: 01 cái/02 năm; cà vạt: 01 cái/02 năm; bít tất: 02 đôi/01 lần/01 năm; cặp đựng tài liệu: 01 cái/02 năm; biển hiệu: 01 cái (cấp 01 lần).
III. Các hành vi nghiêm cấm người thực hiện trợ giúp pháp lý
Khoản 1 Điều 6 Luật TGPL năm 2017 quy định 06 hành vi nghiêm cấm người thực hiện TGPL, cụ thể như sau: (1) xâm phạm danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL; phân biệt đối xử người được TGPL; (2) nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ người được TGPL; sách nhiễu người được TGPL; (3) tiết lộ thông tin về vụ việc TGPL, về người được TGPL, trừ trường hợp người được TGPL đồng ý bằng văn bản hoặc luật có quy định khác; (4) từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện TGPL, trừ trường hợp quy định tại Luật này và quy định của pháp luật tố tụng; (5) lợi dụng hoạt động TGPL để trục lợi, xâm phạm quốc phòng, an ninh quốc gia, gây mất trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đạo đức xã hội; (6) xúc giục, kích động người được TGPL cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trái pháp luật.
IV. Các trường hợp người thực hiện trợ giúp pháp lý không được tiếp tục thực hiện hoặc phải từ chối thực hiện trợ giúp pháp lý
Điều 25 Luật TGPL quy định các trường hợp người thực hiện TGPL không được tiếp tục thực hiện hoặc phải từ chối thực hiện TGPL nhằm bảo đảm cho vụ việc TGPL được thực hiện một cách độc lập, khách quan, trung thực, góp phần bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, cụ thể:
Người thực hiện TGPL không được tiếp tục thực hiện TGPL khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: (1) thực hiện hành vi bị nghiêm cấm quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật này, trừ trường hợp đã chấp hành xong hình thức xử lý vi phạm và được thực hiện TGPL theo quy định của Luật này nhằm tăng cường chế tài đối với các trường hợp nghiêm cấm thực hiện trong hoạt động TGPL; (2) bị thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý, thẻ cộng tác viên TGPL, Chứng chỉ hành nghề luật sư, thẻ tư vấn viên pháp luật để bảo đảm tư cách thực hiện TGPL của những người cung cấp dịch vụ TGPL; (3) các trường hợp không được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng cho phù hợp với các quy định của các luật, bộ luật tố tụng mới được ban hành.
Người thực hiện TGPL phải từ chối thực hiện vụ việc TGPL khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: (1) đã hoặc đang thực hiện TGPL cho người được TGPL là các bên có quyền lợi đối lập nhau trong cùng một vụ việc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác đối với vụ việc tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng trong lĩnh vực dân sự; (2) có căn cứ cho rằng người thực hiện TGPL có thể không khách quan trong thực hiện TGPL; (3) có lý do cho thấy không thể thực hiện vụ việc TGPL một cách hiệu quả, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL (ví dụ vì lý do sức khỏe).
Tóm lại, với các quy định về người thực hiện TGPL như đã nêu ở trên, Luật TGPL năm 2017 đã huy động những người thực hiện TGPL có trình độ, kinh nghiệm. Qua đó vừa thể hiện xu hướng đa dạng hóa chủ thể cung cấp dịch vụ pháp lý, vừa có tính kế thừa Luật hiện hành, đặc biệt là bảo đảm nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL để tạo sự tin tưởng từ người được TGPL đối với người thực hiện TGPL và góp phần nâng cao được vị trí, vai trò của công tác TGPL trong xã hội. Ngoài ra, nhằm cung cấp thông tin cho người được TGPL biết và thực hiện quyền lựa chọn người thực hiện TGPL, Luật TGPL năm 2017 còn quy định Sở Tư pháp công bố danh sách người thực hiện TGPL tại địa phương, đăng tải trên trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp và gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp./.
-CT-
 
[1]Theo pháp luật hiện hành về TGPL thì điều kiện, tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý đã tương đương với luật sư, chỉ còn thiếu quy định về tập sự TGPL: Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 05/02/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TGPL thì người được cấp Thẻ trợ giúp viên pháp lý phải tốt nghiệp khóa đào tạo nghề luật sư (hoặc đã từng là luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư theo quy định Luật Luật sư).