Quốc hội thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi)
24/08/2026
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật trước khi Quốc hội tiến hành biểu quyết. Ảnh: Quochoi.vn
Sáng nay, 24/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, với 471/472 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 94,2% tổng số đại biểu Quốc hội), Quốc hội đã thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi).
Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua gồm 5 chương, 35 Điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.
Luật quy định nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở; hòa giải viên, tổ hòa giải, người được mời tham gia hòa giải, các bên trong hòa giải ở cơ sở; hoạt động hòa giải ở cơ sở; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hòa giải ở cơ sở.
Luật này không áp dụng đối với hoạt động hòa giải của tòa án, trọng tài, hòa giải thương mại, hòa giải lao động, hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (sau đây gọi chung là cấp xã) và hoạt động hòa giải được luật khác quy định.
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật trước khi Quốc hội tiến hành biểu quyết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, trên cơ sở ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã tổ chức chỉ đạo, chỉnh lý toàn diện dự thảo Luật, bảo đảm phù hợp với yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp, tính hợp hiến, thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; đồng thời thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số.
Dự thảo Luật cũng tập trung khắc phục những vướng mắc của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải và quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, góp phần phòng ngừa tranh chấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, tăng cường đồng thuận trong cộng đồng dân cư và góp phần xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Về một số nội dung cụ thể, về bảo mật thông tin trong hòa giải ở cơ sở, trên cơ sở ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã nghiên cứu tiếp thu, giải trình và chỉnh lý, bổ sung 1 điều mới (Điều 5) quy định về bảo mật thông tin trong hòa giải ở cơ sở như thể hiện trong dự thảo Luật.
Về tiêu chuẩn của hòa giải viên (Điều 8), dự thảo Luật lược bỏ từ “thường xuyên” trong cụm từ “cư trú thường xuyên tại cơ sở” nhằm mở rộng phạm vi người được lựa chọn vào danh sách bầu hòa giải viên và bảo đảm thống nhất với Luật Cư trú; đồng thời, bổ sung tiêu chuẩn “có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”; bổ sung tại khoản 5 Điều 8 quy định về các trường hợp không đủ tiêu chuẩn làm hòa giải viên, bao gồm người đang trong thời hạn thi hành quyết định xử lý kỷ luật, trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, người đang chấp hành án hình sự hoặc chưa được xóa án tích để bảo đảm chặt chẽ.
Về bầu hòa giải viên (Điều 9), dự thảo Luật kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, đồng thời bổ sung một số nội dung nhằm bảo đảm tốt hơn tính dân chủ, công khai, minh bạch và phù hợp với thực tiễn, như quy định để xử lý trường hợp số người đạt điều kiện được công nhận làm hòa giải viên nhiều hơn số lượng cần kiện toàn; việc bầu hòa giải viên có thể kết hợp nhiều hình thức, thay vì chỉ bằng một trong các hình thức như tại dự thảo Luật đã trình Quốc hội.
Về nghĩa vụ của hòa giải viên, Tổ trưởng tổ hòa giải, dự thảo Luật bổ sung nghĩa vụ của hòa giải viên về phối hợp thực hiện các biện pháp phòng ngừa trong trường hợp nhận thấy mâu thuẫn, tranh chấp có thể dẫn đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của các bên và của những người khác tham gia hòa giải tại khoản 4 Điều 13; nghĩa vụ của hòa giải viên trong việc đề xuất UBND cấp xã hỗ trợ bố trí người phiên dịch theo đề nghị của các bên tại khoản 6 Điều 13; bổ sung nghĩa vụ của Tổ trưởng tổ hòa giải trong việc thực hiện thủ tục đề nghị thanh toán thù lao theo vụ, việc hòa giải cho người được mời trực tiếp tham gia hòa giải tại khoản 7 Điều 18; bổ sung quy định về trường hợp thôi làm Tổ trưởng tổ hòa giải nhưng không thôi làm hòa giải viên để phù hợp với thực tế (khoản 2 và khoản 4 Điều 14)…