Quy định chặt chẽ hơn về nguyên tắc áp dụng pháp luật trong lĩnh vực bồi thường nhà nước
23/08/2026
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trước khi Quốc hội bấm nút biểu quyết thông qua. (Ảnh trong bài: quochoi.vn)
Chiều 23/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, với 470 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành.
Trước khi Quốc hội bấm nút biểu quyết thông qua, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Theo đó, về nguyên tắc áp dụng pháp luật, trên cơ sở tiếp thu ý kiến của đa số các vị đại biểu Quốc hội, sau khi báo cáo và được sự thống nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đề nghị Quốc hội cho phép tiếp thu, chỉnh lý quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 của dự thảo Luật (sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 4 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước) theo hướng chặt chẽ hơn, tránh việc mở rộng phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ngoài các lĩnh vực đã được quy định tại Điều 1 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Cụ thể như sau: “Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này, trừ trường hợp Quốc hội có quy định khác về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các lĩnh vực quy định tại Điều 1 của Luật này.”

470 đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Theo Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng, việc chỉnh lý như trên đồng thời đáp ứng được các yêu cầu sau:
(i) Chủ thể quyết định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khác với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là Quốc hội;
(ii) Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được Quốc hội quyết định phải nằm trong giới hạn 3 lĩnh vực được quy định tại Điều 1 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án) và là trường hợp chưa được quy định tại Chương I (gồm các Điều 17, 18, 19, 20 và 21) của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;
(iii) Bảo đảm tính cụ thể, rõ ràng, sự đồng bộ, thống nhất trong nội tại của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và không tạo nên cách hiểu khác nhau. Trong trường hợp này, các quy định có liên quan của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (như căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;thiệt hại được bồi thường; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại; cơ quan giải quyết bồi thường; thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường...) được áp dụng đầy đủ và đồng bộ để xem xét trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý thuế (khoản 6 Điều 1 của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 9 Điều 17 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước), Chính phủ đã chỉ đạo nghiên cứu đầy đủ ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội và nhận thấy đây là vấn đề phức tạp, còn nhiều ý kiến khác nhau nên cần tiếp tục nghiên cứu thận trọng, kỹ lưỡng. Do đó, được sự nhất trí của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đề nghị Quốc hội trước mắt cho giữ nguyên phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý thuế như quy định tại khoản 9 Điều 17 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành.
Ngoài ra, để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tránh cách hiểu khác nhau về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý thuế, đề nghị Quốc hội cho sửa đổi, bổ sung điểm n khoản 1 Điều 37 và điểm g khoản 1 Điều 83 của Luật Quản lý thuế năm 2025 như quy định tại khoản 2 Điều 2 của dự thảo Luật.
Ngoài 2 nội dung lớn nêu trên, trên cơ sở ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo nghiên cứu kỹ lưỡng, tiếp thu, giải trình đầy đủ và chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Luật cả về nội dung và kỹ thuật lập pháp như đã được thể hiện trong Báo cáo và dự thảo Luật trình Quốc hội xem xét, thông qua, bao gồm các vấn đề sau:
(1) Chỉnh lý các Điều 41, 42 và 43 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo hướng bỏ thành phần hồ sơ yêu cầu bồi thường là văn bản, giấy tờ mà cơ quan giải quyết yêu cầu bồi thường đã có hoặc có thể yêu cầu cơ quan nhà nước khác cung cấp;
(2) Chỉnh lý quy định về thời gian xác minh thiệt hại, thương lượng việc bồi thường theo hướng Luật không quy định thời hạn tối đa mà do các bên thỏa thuận;
(3) Bổ sung các căn cứ để ban hành quyết định giải quyết bồi thường tại các Điều 45, 46 và 47 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, trong đó có trường hợp ra quyết định giải quyết bồi thường mà không tiến hành thương lượng theo đề nghị của người yêu cầu bồi thường hoặc người yêu cầu bồi thường không đến thương lượng sau khi đã được cơ quan giải quyết bồi thường mời tham gia thương lượng;
(4) Bổ sung các trường hợp giảm mức hoàn trả, miễn hoàn trả tại Điều 65 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và đồng bộ với quy định của pháp luật có liên quan;
(5) Chỉnh lý nội dung về điều khoản chuyển tiếp theo hướng bảo đảm tốt hơn quyền của người yêu cầu bồi thường và người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại.