Kinh phí cho hòa giải ở cơ sở chuyển cách tiếp cận từ “hỗ trợ” sang “bảo đảm”
10/08/2026
Phiên thảo luận tại hội trường sáng 10/8. (Ảnh trong bài: quochoi.vn)
Đại biểu Quốc hội đánh giá cao việc dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) chuyển cách tiếp cận từ “hỗ trợ” sang “bảo đảm” kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở. Đây là sự thay đổi cần thiết nhằm tạo điều kiện để hoạt động hòa giải được duy trì ổn định. Tuy nhiên, cần tính đến sự khác biệt về điều kiện kinh tế - xã hội giữa các địa phương.
Thảo luận tại hội trường sáng 10/8 về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở, các đại biểu tập trung góp ý vào những vấn đề đang đặt ra từ thực tiễn như hòa giải trực tuyến, bầu hòa giải viên, thời hạn hòa giải, kinh phí hoạt động, đặc thù vùng dân tộc thiểu số, cơ chế chỉ định hòa giải viên…
Hòa giải trực tuyến phải đi đôi với bảo mật thông tin
Phát biểu thảo luận, Đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm (Đoàn Lâm Đồng) đánh giá hòa giải ở cơ sở có vai trò quan trọng, giúp giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp ngay từ sớm, từ cơ sở, qua đó góp phần hạn chế những vụ việc nhỏ phát triển thành tranh chấp phức tạp.

Trước khi bước vào phiên làm việc, các đại biểu Quốc hội mặc niệm tưởng nhớ Chủ tịch Quốc hội Lào Saysomphone Phomvihane.
Liên quan đến hình thức hòa giải, Đại biểu tán thành việc quy định hòa giải có thể được thực hiện bằng hình thức trực tiếp, trực tuyến hoặc kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến. Theo Đại biểu, quy định này phù hợp với sự phát triển của công nghệ cũng như thực tiễn đời sống. Chẳng hạn, trong một tranh chấp liên quan đến lối đi chung, các thành viên trong một gia đình có thể đang sinh sống, làm việc tại những thành phố khác nhau. Khi đó, việc cho phép các bên tham gia hòa giải trực tuyến sẽ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và tạo điều kiện để các bên cùng tham gia giải quyết vụ việc.
Tuy nhiên, Đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm cho rằng, cùng với những thuận lợi, hòa giải trực tuyến cũng đặt ra những rủi ro mới, nhất là liên quan đến việc bảo mật thông tin và kiểm soát người tham gia. Theo đó, trong quá trình hòa giải trực tuyến, một bên có thể âm thầm ghi hình, sau đó cắt ghép và đưa nội dung lên mạng xã hội hoặc các nhóm dân cư. Bên cạnh đó, có thể xuất hiện trường hợp người thứ ba đứng phía sau màn hình theo dõi cuộc hòa giải mà bên còn lại không biết. Đáng lưu ý, trong quá trình hòa giải, các bên có thể phải trao đổi những thông tin liên quan đến tài sản, quan hệ gia đình hoặc những vấn đề riêng tư. Nếu những thông tin này bị lưu giữ hoặc chuyển cho người khác, quyền riêng tư của các bên có thể bị ảnh hưởng.

Đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm.
Từ thực tế đó, Đại biểu đề nghị không nên giao toàn bộ nội dung này cho Chính phủ hướng dẫn mà cần quy định ngay trong Luật những nguyên tắc tối thiểu đối với hòa giải trực tuyến. Cụ thể, phải có sự đồng thuận của các bên về việc thực hiện hòa giải bằng hình thức trực tuyến. Đồng thời, phải bảo đảm xác định đúng người tham gia và có cơ chế kiểm soát những người có mặt trong quá trình hòa giải.
Đại biểu cũng đề nghị quy định rõ việc ghi âm, ghi hình, sao chép hoặc cung cấp nội dung của quá trình hòa giải phải có sự đồng ý của các bên và tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin. Đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm cho rằng, việc bổ sung những nguyên tắc này nhằm bảo đảm hòa giải trực tuyến dù được thực hiện trên môi trường số nhưng vẫn giữ được những giá trị cốt lõi của hòa giải ở cơ sở, đó là tính tự nguyện, kín đáo, chân thành và tin cậy.
Đại biểu Võ Ngọc Thanh Trúc (Đoàn TP Hồ Chí Minh) tập trung góp ý vào quy định về bầu hòa giải viên, thời hạn kết thúc hòa giải và cơ chế bảo đảm kinh phí hoạt động.

Đại biểu Võ Ngọc Thanh Trúc.
Đối với quy định về bầu hòa giải viên, Đại biểu cho rằng quy định hiện hành, theo đó phải có trên 50% hộ gia đình tham gia và trên 50% số người tham gia đồng ý, đang bộc lộ những bất cập trong thực tiễn, đặc biệt tại khu vực đô thị, chung cư và nhà trọ, nơi dân cư thường xuyên biến động. Theo Đại biểu, trong những khu vực này, việc tập hợp đủ số lượng hộ gia đình để tham gia và biểu quyết trong cùng một thời điểm là không dễ dàng. Do đó, cần có cách thức linh hoạt hơn để bảo đảm vừa thực hiện được việc lựa chọn hòa giải viên, vừa duy trì tính dân chủ của quy trình.
Đại biểu kiến nghị cho phép tích lũy ý kiến của người dân thông qua nhiều hình thức như tổ chức họp, lấy phiếu trực tuyến hoặc kết hợp các hình thức này trong một khoảng thời gian nhất định. Cơ chế “chỉ định” hòa giải viên chỉ nên được áp dụng sau khi đã tổ chức ít nhất 2 lần lấy ý kiến nhưng không đạt kết quả.
Liên quan đến thời hạn kết thúc hòa giải, Đại biểu Võ Ngọc Thanh Trúc cho rằng dự thảo chưa quy định cụ thể thời hạn kết thúc quá trình hòa giải. Điều này có thể dẫn tới tình trạng một số vụ việc kéo dài, trong khi mâu thuẫn giữa các bên không được giải quyết dứt điểm, thậm chí có thể phát sinh những mâu thuẫn mới. Từ đó, Đại biểu đề nghị quy định thời hạn hòa giải là 15 ngày kể từ khi bắt đầu hòa giải. Đối với vụ việc phức tạp, có thể cho phép gia hạn thêm 15 ngày. Trường hợp trong quá trình hòa giải phát hiện dấu hiệu mất an toàn thì cần chuyển ngay vụ việc đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý.
Về kinh phí hoạt động, Đại biểu đánh giá cao việc dự thảo chuyển cách tiếp cận từ “hỗ trợ” sang “bảo đảm” kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở. Đây là sự thay đổi cần thiết nhằm tạo điều kiện để hoạt động hòa giải được duy trì ổn định. Tuy nhiên, Đại biểu cho rằng cần tính đến sự khác biệt về điều kiện kinh tế - xã hội giữa các địa phương.
Do đó, Đại biểu đề nghị cho phép HĐND cấp tỉnh căn cứ khả năng ngân sách địa phương để quy định mức chi cao hơn mức chuẩn của Trung ương, nhất là tại các đô thị, nơi chi phí phục vụ hoạt động hòa giải thường cao hơn. Ngoài ra, thủ tục thanh quyết toán kinh phí cũng cần được đơn giản hóa. Đại biểu đề nghị áp dụng nguyên tắc “khoán gọn”, giảm bớt yêu cầu về chứng từ quyết toán, bởi phần lớn hòa giải viên ở cơ sở là người cao tuổi, không chuyên về nghiệp vụ tài chính.
Quan tâm hơn đến vùng dân tộc thiểu số, miền núi
Đại biểu Sùng A Lềnh (Đoàn Lào Cai) cũng góp ý vào vấn đề kinh phí, nhất là cho những địa bàn đặc thù. Đại biểu đề nghị Chính phủ quy định cụ thể hơn về định mức và cơ chế phân bổ kinh phí đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Đại biểu Sùng A Lềnh.
Theo Đại biểu, hoạt động hòa giải tại những địa bàn này có những đặc thù riêng, trong đó có chi phí đi lại, biên soạn tài liệu và phiên dịch. Nếu không có cơ chế bảo đảm kinh phí phù hợp, việc tổ chức hòa giải ở những địa bàn rộng, giao thông khó khăn sẽ gặp nhiều trở ngại.
Đối với phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật, Đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung một số đối tượng có thể tham gia hỗ trợ quá trình hòa giải như chuyên gia, người đại diện hợp pháp và người phiên dịch. Đặc biệt, trong những vụ việc phức tạp vượt quá năng lực chuyên môn của tổ hòa giải, cần cho phép tổ trưởng tổ hòa giải tham vấn chuyên gia, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, để có thêm cơ sở giải quyết vụ việc chính xác, khách quan.
Quan tâm đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Đại biểu Chamaléa Thị Thủy (Đoàn Khánh Hòa) tán thành quy định tổ hòa giải tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số. Theo Đại biểu, đây là quy định phù hợp với đặc điểm của địa bàn, bởi hòa giải viên là người dân tộc thiểu số có điều kiện thuận lợi hơn trong việc hiểu ngôn ngữ, phong tục, tập quán và đặc điểm văn hóa của cộng đồng.

Đại biểu Chamaléa Thị Thủy.
Tuy nhiên, Đại biểu đề nghị tiếp tục bổ sung cơ chế bồi dưỡng, cung cấp tài liệu bằng tiếng dân tộc và bảo đảm kinh phí cho người phiên dịch theo hướng thực chất hơn. Đây là những điều kiện cần thiết để chính sách về hòa giải tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số có thể đi vào thực tiễn.
Đối với cơ chế chỉ định hòa giải viên, Đại biểu ủng hộ việc bổ sung cơ chế này trong những trường hợp bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh hoặc trường hợp đã tổ chức bầu nhiều lần nhưng không đạt kết quả. Theo Đại biểu, đây là giải pháp cần thiết để bảo đảm tổ hòa giải có thể hoạt động liên tục, không bị gián đoạn khi xảy ra những tình huống đặc biệt.
Tuy nhiên, để giữ vững tính dân chủ ở cơ sở, Đại biểu đề nghị việc chỉ định hòa giải viên cần được thực hiện trên cơ sở bàn bạc, thống nhất và lấy ý kiến của các tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở trước khi quyết định công nhận. Các tổ chức được Đại biểu đề cập gồm Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi và các tổ chức phù hợp khác tại địa bàn.