Đặt lợi ích tốt nhất của trẻ em làm trung tâm - Tư duy xuyên suốt của dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi)
10/08/2026
Ảnh minh họa. (Nguồn: thanhtra.com.vn)
Nếu như Luật Nuôi con nuôi năm 2010 tạo nền tảng pháp lý cho hoạt động nuôi con nuôi tại Việt Nam thì dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) tiếp tục khẳng định một bước chuyển quan trọng trong tư duy xây dựng pháp luật: mọi quyết định liên quan đến việc cho, nhận con nuôi phải xuất phát từ lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Đây không chỉ là nguyên tắc xuyên suốt của dự thảo Luật mà còn là định hướng thể hiện rõ quan điểm lấy trẻ em làm trung tâm trong quá trình hoàn thiện chính sách, bảo đảm mỗi trẻ em đều có cơ hội được sống trong môi trường gia đình an toàn, ổn định và phù hợp nhất.
Từ quyền được nhận nuôi đến quyền được sống trong môi trường gia đình phù hợp nhất
Trong nhiều năm qua, công tác giải quyết nuôi con nuôi đã góp phần giúp hàng nghìn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được sống trong mái ấm gia đình thay thế. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy không phải mọi trường hợp trẻ em thiếu sự chăm sóc của cha, mẹ đều cần hoặc nên được giải quyết cho làm con nuôi.
Đây cũng là một trong những lý do quan trọng để dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) điều chỉnh mạnh mẽ tư duy xây dựng pháp luật, chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa trên điều kiện của người nhận con nuôi sang cách tiếp cận đặt lợi ích tốt nhất của trẻ em làm trung tâm của toàn bộ quá trình giải quyết.
Theo đó, chính sách đầu tiên của dự thảo Luật hướng tới việc quy định chặt chẽ hơn các điều kiện giải quyết nuôi con nuôi nhằm bảo đảm mọi quyết định đều xuất phát từ quyền và lợi ích của trẻ em. Chính sách này được xây dựng trên cơ sở khắc phục hàng loạt bất cập của Luật hiện hành như chưa quy định đầy đủ điều kiện hoàn cảnh của trẻ em được nhận làm con nuôi; chưa có cơ chế xác nhận điều kiện của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi; chưa quy định đầy đủ về giới thiệu trẻ em cho gia đình nhận nuôi, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi hay hủy bỏ giấy tờ về nuôi con nuôi. Những khoảng trống này đã ảnh hưởng đến mục tiêu bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em trong thực tiễn giải quyết nuôi con nuôi.
Điểm mới quan trọng là dự thảo Luật không coi việc tìm gia đình nhận nuôi là mục tiêu trước tiên, mà ưu tiên bảo đảm quyền của trẻ được sống trong chính gia đình ruột của mình nếu vẫn còn điều kiện.
Điều này phù hợp với tinh thần của Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đồng thời thống nhất với chủ trương của Đảng về bảo đảm trẻ em là trung tâm của các chính sách phát triển. Mỗi quyết định cho trẻ em làm con nuôi chỉ được đặt ra khi các giải pháp để trẻ tiếp tục được chăm sóc trong gia đình gốc không còn khả thi hoặc không còn bảo đảm lợi ích của trẻ.
Vì vậy, dự thảo Luật sẽ bổ sung quy định về điều kiện hoàn cảnh của trẻ em được nhận làm con nuôi theo hướng chỉ những trẻ em thực sự cần có một gia đình thay thế bền vững mới thuộc diện được xem xét giải quyết. Đó có thể là trẻ em bị bỏ rơi, trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc trẻ em không còn nơi nương tựa và không có điều kiện tiếp tục được chăm sóc trong gia đình gốc. Việc quy định rõ tiêu chí này nhằm tránh tình trạng chỉ căn cứ vào độ tuổi như Luật hiện hành, đồng thời bảo đảm việc cho trẻ làm con nuôi luôn là giải pháp cuối cùng vì lợi ích của trẻ.
Một điểm đáng chú ý khác là dự thảo Luật tiếp tục khẳng định nguyên tắc ưu tiên giải quyết nuôi con nuôi trong nước.
Theo Bộ Tư pháp, việc ưu tiên trẻ em được nhận làm con nuôi trong nước không chỉ giúp trẻ duy trì môi trường văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống gia đình và các mối quan hệ xã hội quen thuộc mà còn góp phần thực hiện hiệu quả chính sách an sinh xã hội, bảo đảm không một trẻ em nào phải lớn lên trong sự thiếu vắng tình yêu thương của gia đình nếu trong nước vẫn còn điều kiện chăm sóc phù hợp. Đây cũng là một trong những mục tiêu quan trọng của chính sách sửa đổi Luật lần này.
Không để bất kỳ quyết định nào làm tổn hại đến quyền của trẻ em
Việc lấy lợi ích tốt nhất của trẻ em làm nguyên tắc xuyên suốt không chỉ dừng lại ở việc xác định trẻ nào được nhận làm con nuôi mà còn chi phối toàn bộ quy trình giải quyết hồ sơ.
Theo đó, dự thảo Luật hướng tới xây dựng quy trình chặt chẽ hơn trong việc đánh giá điều kiện của cả trẻ em và người nhận con nuôi; hoàn thiện cơ chế giới thiệu trẻ em với gia đình phù hợp; đồng thời tăng cường tính minh bạch của quá trình giải quyết nhằm hạn chế tối đa nguy cơ phát sinh tiêu cực, môi giới hoặc lợi dụng hoạt động nuôi con nuôi để trục lợi.
Đây cũng là tiền đề để bảo đảm mỗi quyết định cho, nhận con nuôi không chỉ đúng quy định của pháp luật mà còn thực sự mang lại một môi trường sống ổn định, lâu dài và phù hợp nhất cho trẻ em.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng chủ trì cuộc họp cho ý kiến về việc tiếp thu, giải trình, chỉnh lý các nội dung lớn của dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) ngày 12/6/2026.
Đặt lợi ích tốt nhất của trẻ em làm trung tâm cũng đồng nghĩa với việc không chỉ xem xét hoàn cảnh của trẻ mà còn phải đánh giá đầy đủ điều kiện của người nhận con nuôi. Một gia đình thay thế chỉ thực sự có ý nghĩa khi có khả năng mang lại cho trẻ môi trường sống an toàn, ổn định và tạo điều kiện để trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất, tinh thần lẫn nhân cách.
Qua tổng kết thực tiễn thi hành Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Bộ Tư pháp nhận thấy một số quy định hiện hành về điều kiện của người nhận con nuôi chưa thực sự chặt chẽ. Chẳng hạn, Luật chưa quy định người đang trong thời gian hưởng án treo hoặc thời gian thử thách có thuộc trường hợp không được nhận con nuôi hay không. Đây là khoảng trống pháp lý có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo đảm môi trường sống an toàn cho trẻ em.
Từ thực tiễn đó, dự thảo Luật định hướng hoàn thiện các quy định về điều kiện của người nhận con nuôi theo hướng rõ ràng, chặt chẽ hơn; đồng thời bổ sung cơ chế xác nhận điều kiện của cả người nhận con nuôi và trẻ em được nhận làm con nuôi trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định. Việc đánh giá không chỉ dừng lại ở các điều kiện về kinh tế hay năng lực hành vi dân sự mà còn hướng tới xem xét toàn diện khả năng chăm sóc, giáo dục và tạo dựng môi trường sống phù hợp cho trẻ em trong suốt quá trình trưởng thành.
Mỗi trẻ em đều xứng đáng có một mái ấm phù hợp nhất
Có thể thấy, điểm mới nổi bật của dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) không chỉ nằm ở việc bổ sung hay sửa đổi một số thủ tục hành chính, mà trước hết là sự thay đổi trong tư duy xây dựng chính sách. Nếu trước đây việc giải quyết nuôi con nuôi chủ yếu tập trung vào việc hoàn tất các điều kiện pháp lý để xác lập quan hệ cha mẹ - con thì nay trọng tâm được chuyển sang bảo đảm quyền của trẻ em trong toàn bộ quá trình.
Theo đó, mọi quy định từ xác định trẻ em đủ điều kiện được nhận làm con nuôi, đánh giá người nhận con nuôi, giới thiệu trẻ em với gia đình thay thế đến việc xác lập hệ quả pháp lý của quan hệ nuôi con nuôi đều phải phục vụ mục tiêu cao nhất là mang lại môi trường sống tốt nhất cho trẻ em. Đây cũng là sự cụ thể hóa quan điểm của Đảng, Nhà nước về chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, đồng thời thể hiện đầy đủ các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực quyền trẻ em.
Trên cơ sở đó, Chính phủ đã xác định chính sách (định hướng) thứ nhất của dự thảo Luật là hoàn thiện các quy định về điều kiện giải quyết nuôi con nuôi, khắc phục những bất cập sau hơn 15 năm thi hành Luật năm 2010. Việc sửa đổi không chỉ nhằm tạo thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước mà quan trọng hơn là bảo đảm mỗi trẻ em đều có cơ hội được lớn lên trong một gia đình thực sự yêu thương, an toàn và phù hợp với nhu cầu phát triển của mình.
Có thể khẳng định, khi lợi ích tốt nhất của trẻ em trở thành nguyên tắc xuyên suốt của dự thảo Luật, mỗi quyết định cho, nhận con nuôi sẽ không còn đơn thuần là một thủ tục hành chính hay sự thỏa thuận giữa người lớn. Đó là một quyết định liên quan trực tiếp đến tương lai của một con người, đòi hỏi sự cân nhắc thận trọng, khách quan và nhân văn ở từng khâu của quy trình giải quyết.
Đây cũng là nền tảng để các chính sách tiếp theo của dự thảo Luật tiếp tục được hoàn thiện theo hướng phát huy vai trò của công tác xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy mạnh phân cấp, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số, góp phần xây dựng một hệ thống pháp luật về nuôi con nuôi hiện đại, đồng bộ và thực sự lấy trẻ em làm trung tâm của mọi chính sách.