TÌM KIẾM PHẢN ÁNH KIẾN NGHỊ

Từ khóa
Mã tra cứu
Lĩnh vực
Người gửi
Số điện thoại
Email

TRANG CHÍNH >> Dân sự - kinh tế>> XEM CHI TIẾT CÂU HỎI

Đề nghị hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự

Trong quá trình thực hiện Bộ luật dân sự, việc ký kết các hợp đồng, giao dịch giữa Công ty chúng tôi với ngân hàng có một số vấn đề vận dụng Luật. Cụ thể: tại khoản 05 Điều 144 Bộ luật dân sự 2005 (tương đương khoản 3 Điều 141 Bộ luật dân sự 2015) quy định: Người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật quy định khác. Điều này đang có nhiều cách hiểu khác nhau, nhất là trong hợp đồng thế chấp, bảo lãnh có ba bên. Có ý kiến cho rằng người đại diện không được ký trong hợp đồng giao dịch trên chính tài sản của mình. Có ý kiến cho rằng điều luật trên chỉ áp dụng với hợp đồng, giao dịch có hai bên. Xin cho biết từ 2005 đến nay có văn bản pháp luật nào hướng dẫn thực hiện khoản 05 Điều 144 Bộ luật dân sự 2005 hay khoản 3 Điều 141 Bộ luật dân sự 2015 không? Nếu không có văn bản hướng dẫn thì quan điểm của Bộ Tư pháp về việc thực hiện 05 Điều 144 Bộ luật dân sự 2005 (tương đương khoản 3 Điều 141 Bộ luật dân sự 2015) như thế nào?

Gửi bởi: Hà Quang Hải

Trả lời có tính chất tham khảo

Sau khi nhận được ý kiến phản ánh của độc giả Hà Quang Hải, Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp đã gửi ý kiến tới đơn vị chuyên môn là Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế. Đến nay, Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế đã trả lời nội dung phản ánh của độc giả, cụ thể như sau:
“1. Quy định của Bộ luật dân sự về đại diện tại Chương VII (từ Điều 139 - Điều 148) Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 và nay là tại Chương IX (từ Điều 134 - Điều 143) BLDS năm 2015 là các quy phạm pháp luật được áp dụng để điều chỉnh quan hệ pháp luật liên quan đến vấn đề đại diện; hiện nay chưa có văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành các quy định này.
2. Liên quan đến vấn đề nêu tại Công văn số 280/CNTT-TTTT về việc trả lời phản ánh kiến nghị của người dân, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và trên cơ sở thông tin được cung cấp, Vụ PLDSKT có ý kiến như sau:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 141 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 144 Bộ luật dân sự năm 2005 thì về nguyên tắc, “một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Trong các quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, có thể tồn tại các giao dịch liên quan đến ba bên như quan hệ thế chấp tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho người thứ ba (Điều 317 đến Điều 327) và quan hệ bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh (Điều 335 đến Điều 343), cụ thể như sau:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật dân sự năm 2015 thì “thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”. Quy định trên của BLDS chỉ quy định là bảo đảm đối với việc thực hiện nghĩa vụ mà không quy định cụ thể giới hạn phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên nào. Vì vậy, các tổ chức, cá nhân căn cứ vào quy định pháp luật, mục đích giao kết hợp đồng để xác lập giao dịch về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho phù hợp.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 335 Bộ luật dân sự năm 2015 thì “bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Mặt khác, theo quy định tại khoản 3 Điều 336 thì “các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh”. Như vậy, trong quan hệ bảo lãnh, bên bảo lãnh cam kết bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của bên thứ ba nhưng đồng thời, bên bảo lãnh có thể sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của chính mình (chẳng hạn, thông qua cầm cố, thế chấp).
Ngoài ra, cần phân biệt rõ: trong hợp đồng vay vốn giữa doanh nghiệp và Ngân hàng, chủ thể của giao dịch là doanh nghiệp (bên vay) và Ngân hàng (bên cho vay); trong khi đó, trong các hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh thì xuất hiện 02 chủ thể là bên bảo đảm (bên thế chấp, bên bảo lãnh) và bên nhận bảo đảm (bên nhận thế chấp, bên nhận bảo lãnh). Do vậy, về nguyên tắc trong các giao dịch này có sự tách bạch về tư cách pháp lý của từng chủ thể, mục đích của giao dịch thì không làm phát sinh tình huống “nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó”.
Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp thông báo để bạn đọc được biết./.