Một số khó khăn, vướng mắc cần lưu ý trong việc thực hiện Luật Thi hành án dân sự

Luật Thi hành án dân sự được Quốc hội nước ta thông qua ngày 14/11/2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009. Sau khi Luật Thi hành án dân sự được ban hành, ngày 29/12/2009 Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 2425/QĐ-BTP về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Luật Thi hành án dân sự và Nghị quyết của Quốc hội về thi hành Luật này, Chính phủ, các Bộ, ngành đã ban hành hơn 20 văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự. Việc triển khai và thực hiện Luật Thi hành án dân sự đến nay đã góp phần làm cho công tác thi hành án dân sự có chuyển biến thực sự, tuy nhiên nhiều khó khăn, vướng mắc về mặt chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự cần phải có giải pháp khắc phục.

1. Về việc xử lý đơn yêu cầu thi hành án trong trường hợp người được thi hành án không nêu rõ thông tin về điều kiện thi hành án và không yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh điều kiện thi hành án

Trong việc thực hiện Điều 31 và Điều 44 Luật Thi hành án dân sự do người được thi hành án gửi đơn yêu cầu thi hành án nhưng không nêu rõ thông tin về điều kiện thi hành án và cũng không yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh điều kiện thi hành án có một số điểm như sau:

Thứ nhất, một trong những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự là quy định người được thi hành án có trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án. Theo khoản 1 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự, đơn yêu cầu thi hành án phải có "Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án". Do vậy, trường hợp đơn yêu cầu thi hành án không có đầy đủ các nội dung quy định và người được thi hành án không yêu cầu xác minh thì cơ quan thi hành án dân sự nhận đơn, vào sổ công văn đến và căn cứ Điều 4 Nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ có văn bản thông báo gửi đương sự yêu cầu bổ sung nội dung đơn còn thiếu trước khi ra quyết định thi hành án.

Văn bản thông báo nêu rõ nội dung, cách thức, hình thức xác minh, hướng giải quyết khi không xác minh được để người được thi hành án thực hiện, trường hợp không thể thực hiện được việc xác minh (như: các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không cung cấp thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án; người được thi hành án là người già yếu, không có người nương tựa; việc đi lại khó khăn hoặc những trường hợp khác mà người được thi hành án không thể xác minh được) thì có thể yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành xác minh và phải chịu chi phí xác minh theo quy định tại khoản 1 Điều 44 và khoản 2 Điều 73 Luật Thi hành án dân sự. Khi người được thi hành án đã cung cấp thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án hoặc có yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành xác minh theo thông báo của cơ quan thi hành án thì cơ quan thi hành án tiến hành việc nhận đơn yêu cầu thi hành án, vào sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án, ra quyết định và thụ lý thi hành án. Cơ quan thi hành án tiến hành xác minh, nếu có căn cứ ủy thác thì cơ quan thi hành án thực hiện việc ủy thác theo quy định của pháp luật. Nếu xác định người phải thi hành án không có điều kiện thi hành thì áp dụng Điều 51 Luật Thi hành án dân sự để trả đơn yêu cầu thi hành án.

Thứ hai, khoản 2 Điều 4 Nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định: “Trường hợp đơn yêu cầu thi hành án không có đầy đủ các nội dung theo quy định hoặc không nêu rõ thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án nhưng không yêu cầu xác minh thì cơ quan thi hành án dân sự thông báo để đương sự bổ sung nội dung đơn yêu cầu thi hành án trước khi ra quyết định thi hành án”. Trong trường hợp này, nếu người được thi hành án không bổ sung thông tin và cũng không yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án chưa ra quyết định thi hành án nhưng cần thông báo cho đương sự biết.

Tuy nhiên, trong trường hợp người phải thi hành án phải thi hành đồng thời cả khoản nghĩa vụ thi hành án theo đơn yêu cầu và nghĩa vụ thi hành án thuộc diện Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án thì việc xác minh điều kiện thi hành án của đương sự được Chấp hành viên chủ động tiến hành cho đến khi người phải thi hành án thi hành xong khoản nghĩa vụ thuộc diện chủ động. Kết quả xác minh tiếp tục được công nhận để tổ chức thi hành khoản nghĩa vụ theo đơn yêu cầu. Do đó, cơ quan thi hành án đã xác minh biết được người phải thi hành có điều kiện thi hành, thì vẫn nhận đơn, ra quyết định và thụ lý việc thi hành án theo đơn yêu cầu của người được thi hành án, mặc dù người được thi hành án không bổ sung thông tin và cũng không yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh điều kiện thi hành án.

Thứ ba, Điều 44 Luật Thi hành án dân sự quy định, việc xác minh điều kiện thi hành án phải lập thành biên bản, có xác nhận của Tổ trưởng tổ dân phố, UBND cấp xã, Công an xã. Nếu thiếu một trong ba chữ ký xác nhận của người có trách nhiệm nêu trên thì biên bản xác minh điều kiện thi hành án không có giá trị pháp lý. Tuy nhiên trên thực tế, Tổ trưởng tổ dân phố tuy nắm rõ điều kiện của người phải thi hành án, nhưng phần lớn thời gian đi làm vắng, không thường xuyên ở nhà nên khó liên hệ, mặt khác họ sợ trách nhiệm và ngại va chạm. Trong khi đó, Nhà nước cũng không có chính sách đãi ngộ thỏa đáng và không có cơ chế quy trách nhiệm đối với họ, nên họ thường không nhiệt tình hợp tác. Điều này khiến cơ quan thi hành án gặp không ít khó khăn khi xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Tuy nhiên trước mắt cơ quan thi hành án cần chú trọng thực hiện theo quy định hiện hành.

2. Sắp xếp tài liệu trong hồ sơ thi hành án

Luật Thi hành án dân sự không quy định về sắp xếp tài liệu có trong hồ sơ thi hành án, tuy nhiên tại mục 2 phần I Thông tư 06/2007/TT-BTP ngày 05/7/2007 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự đã hướng dẫn về sắp xếp tài liệu và thứ tự đánh số bút lục của hồ sơ thi hành án. Trong khi chưa có Thông tư mới, trước mắt các quy định của Thông tư này không trái với Luật Thi hành án dân sự và Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự của Chính phủ thì cơ quan thi hành án dân sự vẫn áp dụng trong hoạt động thi hành án dân sự.

Theo Thông tư 06/2007/TT-BTP nêu trên, các tài liệu có trong hồ sơ thi hành án phải được sắp xếp cẩn thận, đánh bút lục và liệt kê đầy đủ vào bảng danh mục in trên bìa hồ sơ thi hành án. Số bút lục thi hành án được đánh vào góc phải, mặt trước của từng tờ tài liệu và phải được đánh ngay sau khi có được tài liệu của hồ sơ thi hành án. Mỗi tờ tài liệu được đánh một bút lục (riêng bản án, quyết định của Toà án chỉ đánh một bút lục). Cơ quan thi hành án thực hiện khắc dấu bút lục để sử dụng theo mẫu thống nhất tại Phụ lục III của Thông tư này. Việc quản lý và sử dụng dấu bút lục theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng dấu. Thứ tự đánh số bút lục của hồ sơ thi hành án như sau: Đối với trường hợp thi hành án chủ động, thì bút lục 01 là quyết định thi hành án, bút lục 02 là bản án, quyết định của Toà án mà cơ quan thi hành án đưa ra thi hành; các bút lục tiếp theo đánh theo phương pháp tịnh tiến về số và thứ tự thời điểm cơ quan thi hành án có được tài liệu. Đối với trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu của người được thi hành án, người phải thi hành án thì bút lục 01 là quyết định thi hành án, bút lục 02 là đơn yêu cầu thi hành án, bút lục 03 là bản án, quyết định của Toà án; các tài liệu tiếp theo đánh theo phương pháp tịnh tiến về số và thứ tự thời điểm cơ quan thi hành án có được tài liệu.

Vì thế, khi liệt kê bút lục vào bảng danh mục in trên trang 3 của bìa hồ sơ thi hành án, Chấp hành viên phải liệt kê theo thứ tự bắt đầu từ bút lục 1 cho đến bút lục cuối cùng và cũng phải sắp xếp tài liệu theo thứ tự bắt đầu từ bút lục 1 cho đến bút lục cuối cùng. Như vậy, việc sắp xếp các tài liệu của hồ sơ thi hành án phải thể hiện sau trang 1 (trang ngoài cùng) đến trang 2 của bìa hồ sơ thi hành án là bút lục số 1 rồi đến các bút lục tiếp theo và cuối cùng đến trang 3 của bìa hồ sơ thi hành án.

3. Chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án đối với doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hoá

Theo Điều 10 Nghị định 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần thì Công ty cổ phần không có trách nhiệm thanh toán khoản nợ của doanh nhiệp nhà nước đã chuyển đổi, nếu sau thời điểm chuyển đổi, công ty cổ phần không được bàn giao trách nhiệm thanh toán. Tại điểm e khoản 1 Điều 54 của Luật Thi hành án dân sự quy định: “Trường hợp doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần mà trước đó chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của mình thì sau khi chuyển đổi, doanh nghiệp đó tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án.”

Trong trường hợp này, doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần mà trước đó chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của mình thì sau khi chuyển đổi, doanh nghiệp là công ty cổ phần tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án.

4. Việc thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành án

Điều 59 Luật Thi hành án dân sự quy định: “Trường hợp theo bản án, quyết định mà một bên được nhận tài sản và phải thanh toán cho người khác giá trị tài sản họ được nhận, nhưng tại thời điểm thi hành án, giá tài sản thay đổi và một trong các bên đương sự có yêu cầu định giá tài sản đó thì tài sản được định giá theo quy định tại Điều 98 của Luật này để thi hành án”. Tuy nhiên, điều luật lại không quy định cụ thể việc định giá để thi hành án chia theo tỷ lệ như thế nào, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này cũng chưa quy định chi tiết.

Ví dụ: Anh H được hưởng tài sản thừa kế của bố nằm trong khối tài sản chung với bà A. Theo bản án thì bà A phải trả cho anh H số tiền 100 triệu đồng (tương ứng với 1/3 khối tài sản chung với bố anh H là ngôi nhà và đất có diện tích là 1.412m2 do bố anh H và bà A đứng tên mua chung) và lãi suất chậm thi hành án. Tại thời điểm bản án có hiệu lực (năm 2007) thì Toà án định giá 1/3 tài sản đó tương ứng với số tiền là 100 triệu đồng Việt Nam, nhưng tại thời điểm thì hành án thì 1/3 tài sản đó có giá trị 1,5 tỷ đồng. Bà A không tự nguyện thi hành án, thì cơ quan thi hành án có được định giá tài sản để buộc bà A phải trả cho anh H 1,5 tỷ đồng không? Hay phải thi hành 100 triệu đồng và lãi suất chậm thi hành án?

Do vậy, nếu án tuyên một bên được nhận tài sản, một bên được nhận tiền tương ứng với tỉ lệ giá trị của tài sản, khi thi hành án giá trị tài sản thay đổi (tăng hoặc giảm), trước mắt cần lưu ý các trường hợp sau đây:

- Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc định giá lại tài sản để thanh toán tiền cho nhau tương ứng với tỷ lệ giá trị tài sản được chia tại thời điểm thi hành án, thì cơ quan thi hành án tổ chức định giá tài sản để thi hành án theo thỏa thuận của các đương sự.

- Trường hợp các đương sự không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không được, thì cơ quan thi hành án không tổ chức định giá tài sản mà thực hiện việc thi hành án theo đúng nội dung bản án. Theo đó, bên được nhận tài sản được thi hành án nhận tài sản, bên được nhận tiền được nhận tiền và lãi suất chậm thi hành án theo quyết định của bản án.

5. Điều kiện miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án

- Điều 61 Luật Thi hành án dân sự quy định: 

“1. Người phải thi hành án không có tài sản để thi hành các khoản thu nộp ngân sách nhà nước thì có thể được xét miễn nghĩa vụ thi hành án khi hết thời hạn sau đây:

a) 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với các khoản án phí không có giá ngạch;

b) 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với các khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị dưới 5.000.000 đồng.

2. Người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước mà không có tài sản để thi hành án thì có thể được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại khi hết thời hạn sau đây:

a) 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới 5.000.000 đồng;

b) 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới 10.000.000 đồng.

3. Người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước mà không có tài sản để thi hành án thì có thể được xét giảm một phần nghĩa vụ thi hành án sau khi hết thời hạn sau đây:

a) 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng;

b) 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ trên 100.000.000 đồng”.

Khoản 1 Điều 26 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định “Người phải thi hành nghĩa vụ đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đã thi hành được ít nhất bằng 1/20 khoản phải thi hành, nhưng giá trị không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch thì được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 Luật Thi hành án dân sự”.

Có ý kiến cho rằng, như vậy đối với các trường hợp mà người phải thi hành các khoản thu nộp ngân sách nhà nước trên 5.000.000 đồng hoàn toàn không có điều kiện nộp thì những hồ sơ này sẽ treo mãi tại cơ quan thi hành án mà không có hướng ra, không thể miễn, giảm được.

Trường hợp này, hiện nay pháp luật quy định điều kiện xét miễn, giảm đối với người phải thi hành án phải “đã thi hành được ít nhất bằng 1/20 khoản phải thi hành, nhưng giá trị không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch” là bắt buộc. Do vậy, nếu người phải thi hành án chưa thi hành được ít nhất bằng 1/20 khoản phải thi hành, thì chưa đủ điều kiện xét miễn, giảm thi hành án. Cơ quan thi hành án phải thực hiện đúng quy định tại khoản 5 Điều 6 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP: “Đối với việc thi hành án thuộc diện chủ động thi hành án mà người phải thi hành án không có điều kiện thi hành án thì ít nhất 6 tháng một lần Chấp hành viên phải thực hiện xác minh điều kiện thi hành án của đương sự. Trường hợp người phải thi hành án không có điều kiện thi hành án mà đang chấp hành hình phạt tù hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới thì thời hạn xác minh giữa các lần không được quá một năm”.

Trong quá trình xác minh, đôn đốc việc thi hành án, cơ quan thi hành án có thể động viên thân nhân của người phải thi hành án nộp tiền thay cho người phải thi hành án để có điều kiện xét miễn, giảm thi hành án.

6. Chi phí thông báo về thi hành án dân sự và chi phí xác minh điều kiện thi hành án

- Chi phí thông báo về thi hành án:

Tại khoản 4 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự quy định: “Chi phí thông báo do người phải thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật quy định ngân sách nhà nước chi trả hoặc người được thi hành án chịu”. Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này quy định chưa cụ thể về từng loại chi phí thông báo về thi hành án do người phải thi hành án, ngân sách nhà nước chi trả hoặc người được thi hành chịu?

Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số 19/2008/TTLT-BTC-BTP ngày 19/02/2008 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp “hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự và Tổ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản” có quy định ngân sách bảo đảm hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự có nội dung chi thông báo về thi hành án. Do vậy, trước mắt, trong khi chưa có văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể Luật Thi hành án dân sự đối với nội dung này, cơ quan thi hành án vẫn áp dụng Thông tư liên tịch số 19/2008/TTLT-BTC-BTP nêu trên. Vì thế, cơ quan thi hành án dân sự chỉ thu chi phí thông báo về thi hành án của người phải thi hành án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 73 Luật Thi hành án với mức đủ để chi theo nội dung và mức chi thông báo cưỡng chế thi hành án quy định tại Thông tư liên tịch số 68/2006/TTLT-BTC-BTP ngày 26/7/2006 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp "hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính về kinh phí tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự”.

- Chi phí xác minh điều kiện thi hành án trong trường hợp người được thi hành án chịu:

Tại khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự có quy định: “Trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu, nếu người được thi hành án đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì có thể yêu cầu Chấp hành viên tiến hành xác minh”. Tại khoản 2 Điều 73 Luật Thi hành án dân sự quy định người được thi hành án phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án là chi phí xác minh theo quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật này.

Tuy nhiên, đến nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể về nội dung, mức chịu, thủ tục thu, nộp khoản này. Do vậy, cơ quan thi hành án dân sự chưa thu chi xác minh của người được thi hành án. Trước mắt, cơ quan thi hành án vẫn thực hiện theo Thông tư liên tịch số 19/2008/TTLT-BTC-BTP và Thông tư liên tịch số 68/2006/TTLT-BTC-BTP nêu trên.

7. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án gắn liền với tài sản của người khác

- Thực tế hiện nay trong hoạt động thi hành án nảy sinh vướng mắc, đó là việc phải xử lý nhà ở của người phải thi hành án được xây dựng trên đất của người khác. Trong nhiều trường hợp, người phải thi hành án chỉ có tài sản duy nhất là ngôi nhà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhưng nằm trên đất mượn, cơ quan thi hành án dân sự đã tiến hành kê biên ngôi nhà để đảm bảo thi hành án, nhưng hầu như không thể xử lý tiếp được. Trong khi đó, Luật Nhà ở không cấm chủ sở hữu nhà đã có giấy chứng nhận quyền sở hữu tham gia các giao dịch. Khi các giao dịch này được thực hiện, phát sinh tranh chấp, sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền, đến giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án thường gặp phải khó khăn nêu trên.

Trường hợp khác cơ quan thi hành án cũng gặp phải khó khăn tương tự đó là việc xử lý quyền sử dụng đất nhưng trên đất có nhà thuộc sở hữu của người khác. Đây là tình huống mà cơ quan thi hành án thường xuyên gặp phải trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định mà để xử lý được thì mất nhiều thời gian, chi phí.

- Quyền ưu tiên mua tài sản chung: Điều 74 Luật Thi hành án dân sự 2008, trước khi cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác, kể cả quyền sử dụng đất, Chấp hành viên phải thông báo cho chủ sở hữu chung biết việc cưỡng chế. Chủ sở hữu chung có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của họ đối với tài sản chung. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để bảo đảm thi hành án. Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Trường hợp vợ hoặc chồng không đồng ý thì có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày phần sở hữu được Chấp hành viên xác định. Hết thời hạn trên, đương sự không khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành xử lý tài sản và thanh toán lại cho vợ hoặc chồng của người phải thi hành án giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.

Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán lại cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.

Khoản 3 Điiều 74 Luật Thi hành án dân sự quy định khi bán tài sản chung, chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua tài sản. Quyền ưu tiên mua tài sản chung thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 233 Bộ luật Dân sự 2005 trong thời hạn 03 tháng đối với bât động sản, 01 tháng đối với động sản, kể từ ngày chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán.

- Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở: Theo quy định tại Điều 168 Bộ luật Dân sự năm 2005 đăng ký là điều kiện làm phát sinh hiệu lực của sự chuyển quyền sở hữu hoặc sử dụng tài sản, nhưng cũng theo quy định tại Điều 168, nguyên tắc này sẽ bị loại trừ nếu trường hợp pháp luật có quy định khác. Theo Khoản 5 Điều 93 Luật Nhà ở thì quyền sở hữu nhà ở được chuyển cho bên mua, bên nhận tặng cho, bên thuê mua, bên nhận đổi nhà ở kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng. Như vậy, nhà ở cũng là một trong những loại tài sản thuộc diện loại trừ của Điều 168 Bộ luật Dân sự vì theo quy định trên quyền sở hữu đối với nhà ở được chuyển kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng. Vấn đề đặt ra là: nếu như có trường hợp chủ sở hữu nhà là người phải thi hành án đã tiến hành bán ngôi nhà đó, hợp đồng bán nhà đã được công chứng tại Phòng công chứng, nhưng người mua chưa làm thủ tục sang tên đối với ngôi nhà đó. Nếu theo Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai thì quyền sử dụng đất chưa được chuyển giao cho người mua (vì chưa đăng ký), nhưng nếu theo Khoản 5 Điều 93 Luật Nhà ở thì ngôi nhà đã được chuyển quyền sở hữu cho người mua. Trường hợp đó, cơ quan thi hành án dân sự xử lý ngôi nhà trên để thi hành án gặp phải sự phản ứng gay gắt của đương sự, cũng như sự vướng mắc giữa các quy định của pháp luật.

- Khoản 1, Điều 89 Luật Thi hành án dân sự quy định: "Trước khi kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu..., Chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch, đăng ký" và tại khoản 1 Điều 111 có quy định: "Khi kê biên quyền sử dụng đất, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý giấy tờ về quyền sử dụng đất phải nộp các giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự". Theo Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai năm 2003 thì thời điểm chuyển quyền sử dụng đất được tính từ khi đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, trong khi đó Luật Nhà ở năm 2005 quy định thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở được tính kể từ khi hợp đồng mua bán được công chứng, chứng thực. Như vậy, nếu không xác định rõ phải áp dụng quy định nào để thực hiện kê biên tài sản để thi hành án thì Chấp hành viên rất dễ bị khiếu nại, có nguy cơ dẫn đến phải bồi thường. Ví dụ như: Việc kê biên nhà ở sau khi đã có hợp đồng mua bán được công chứng: Nếu người phải thi hành án là người mua nhà thì sau khi kê biên, có thể bị người bán nhà khiếu nại vì giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở vẫn còn thuộc người bán nhà. Hoặc là, nếu người phải thi hành án là người bán nhà thì sau khi kê biên, người mua nhà sẽ căn cứ vào hợp đồng mua bán đã công chứng để xác định nhà đã thuộc quyền sở hữu của họ theo Luật Nhà ở và dẫn đến khiếu nại. Nếu không kê biên nhà đất của người phải thi hành án (trường hợp vẫn còn giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, dù nhà đã bán và có công chứng) thì người được thi hành án sẽ khiếu nại vì cho rằng Chấp hành viên tạo điều kiện cho người phải thi hành án tẩu tán tài sản.

8. Định giá tài sản đã kê biên

Luật Thi hành án dân sự quy định về định giá tài sản trong thi hành án dân sự chưa đầy đủ, có một số vướng mắc. Vì vậy, trước mắt thực hiện theo hướng dẫn tại Công văn số 1970/TCTHA-NV1 ngày 12/10/2010 của Tổng cục Thi hành án dân sự một số nội dung sau:

- Về việc Chấp hành viên xác định giá tài sản kê biên

Khi xác định giá đối với tài sản kê biên theo khoản 3 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự và Điều 15 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ, Chấp hành viên cần lưu ý:

Trường hợp trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản kê biên chưa có tổ chức thẩm định giá, thì Chấp hành viên yêu cầu đương sự thoả thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá ở địa bàn khác. Nếu đã yêu cầu mà đương sự không thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì Chấp hành viên tiến hành xác định giá tài sản kê biên theo quy định.

Việc tham khảo ý kiến của cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn có liên quan trước khi xác định giá tài sản kê biên theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP cần được thực hiện bằng văn bản. Trường hợp cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn không có ý kiến theo đề nghị của Chấp hành viên thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự báo cáo, đề nghị Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo các cơ quan nói trên có ý kiến để Chấp hành viên xác định giá tài sản kê biên.

- Về bảo đảm quyền yêu cầu định giá lại tài sản kê biên

Trường hợp đương sự có yêu cầu định giá lại tài sản kê biên trước khi có thông báo công khai việc bán đấu giá tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 99 Luật Thi hành án dân sự (không phân biệt bán đấu giá tài sản lần thứ mấy), thì Chấp hành viên tổ chức định giá lại tài sản kê biên. Chấp hành viên thông báo cho đương sự biết về việc người yêu cầu định giá lại phải chịu chi phí định giá lại tài sản theo quy định của pháp luật.

- Lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản kê biên trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự.

Nếu đương sự có thoả thuận về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó. Tổ chức thẩm định giá do đương sự lựa chọn là tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản kê biên hoặc tổ chức thẩm định giá trên địa bàn khác. Việc thoả thuận của đương sự về lựa chọn tổ chức thẩm định giá cũng được thực hiện đối với việc định giá lại tài sản kê biên.

Các trường hợp khác, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ thẩm định giá với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản kê biên.

- Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về định giá tài sản kê biên

Trường hợp khiếu nại việc xác định giá tài sản của Chấp hành viên và khiếu nại về hành vi của Chấp hành viên trong việc ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá (như: thời hạn, trình tự, thủ tục ký hợp đồng .v.v.) thì được giải quyết theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

Khiếu nại (tranh chấp) về kết quả định giá tài sản của tổ chức thẩm định giá được giải quyết theo pháp luật về thẩm định giá. Nghị định số 101/2005/NĐ-CP ngày 03/8/2005 của Chính phủ về thẩm định giá và Thông tư số 17/2006/TT-BTC ngày 13/3/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 101/2005/NĐ-CP quy định: Tổ chức thẩm định giá chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp và kết quả thẩm định giá. Việc xử lý tranh chấp về kết quả thẩm định giá thực hiện theo Điều 23 Nghị định số 101/2005/NĐ-CP nêu trên.

Như vậy, đối với những khiếu nại về kết quả thẩm định giá tài sản hoặc hành vi, quyết định của tổ chức thẩm định giá thì cơ quan thi hành án dân sự không thụ lý giải quyết. Nếu đương sự không đồng ý với kết quả thẩm định giá do tổ chức thẩm định giá đưa ra và yêu cầu định giá lại tài sản kê biên trước khi thông báo công khai việc bán đấu giá, thì Chấp hành viên tổ chức định giá lại theo quy định.

9. Xử lý tài sản bán đấu giá không thành

Điều 100 của Luật Thi hành án dân sự về giao tài sản để thi hành án quy định: Trường hợp đương sự thoả thuận để người được thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án thì Chấp hành viên lập biên bản về việc thoả thuận; việc giao tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có thoả thuận. Như vậy, theo tinh thần điều luật này thì việc giao tài sản để thi hành án phải có sự thỏa thuận được của các bên đương sự. Tuy nhiên, Điều 104 Luật Thi hành án dân sự về xử lý tài sản bán đấu giá không thành quy định như sau: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày bán đấu giá không thành mà đương sự không yêu cầu định giá lại thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Mỗi lần giảm giá không quá 10% giá đã định. Trường hợp giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án không nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án”.

Trong trường hợp này Luật Thi hành án dân sự lại không quy định rõ là cần có thỏa thuận của các bên đương sự không hay chỉ cần người được thi hành án đồng ý là cơ quan thi hành án thực hiện việc giao tài sản cho người đó để khấu trừ tiền thi hành án. Trong khi đó, hiện nay các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự cũng không quy định cụ thể thêm về vấn đề này. Do vậy, trường hợp giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án đồng ý nhận tài sản bán đấu giá không thành, nhưng người phải thi hành án không đồng ý giao, thì chưa có sở pháp lý để giao tài sản đó cho người được thi hành án.

Vì thế, tài sản bán đấu giá không thành, Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá, khi đó người được thi hành án được tham gia mua đấu giá tài sản như những người khác. Nếu chỉ có người được thi hành án tham gia mua đấu giá tài sản, thì thực hiện việc bán đấu giá tài sản trong trường hợp chỉ có một người tham gia đấu giá theo quy định tại Điều 37 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/03/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản: “Trong trường hợp đã hết thời hạn đăng ký tham gia đấu giá tài sản mà chỉ có một người đăng ký mua tài sản bán đấu giá hoặc có nhiều người đăng ký tham gia đấu giá nhưng chỉ có một người tham gia cuộc bán đấu giá và trả giá ít nhất bằng giá khởi điểm thì tài sản được bán cho người đó, nếu người có tài sản bán đấu giá đồng ý. Việc bán tài sản trong trường hợp này chỉ được tiến hành sau khi đã thực hiện đầy đủ việc niêm yết, thông báo công khai, trưng bày tài sản và không có khiếu nại liên quan đến trình tự, thủ tục cho đến khi quyết định bán tài sản”.

Trường hợp đương sự thoả thuận để người được thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án thì căn cứ Điều 100 Luật Thi hành án dân sự, Chấp hành viên lập biên bản về việc thoả thuận. Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì người nhận tài sản phải được sự đồng ý của những người được thi hành án khác và phải thanh toán lại cho những người được thi hành án khác số tiền tương ứng tỷ lệ giá trị mà họ được hưởng. Việc giao tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có thoả thuận.

10. Về thi hành quyết định về tuyên bố phá sản

Theo quy định của Luật Phá sản doanh nghiệp, khi có quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán phụ trách vụ việc ra quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Tổ quản lý, thanh lý tài sản áp dụng các quy định của Luật Phá sản và pháp luật về thi hành án dân sự. Tuy nhiên, hiện nay nhiều vụ việc phá sản tồn đọng, không giải quyết dứt điểm được do nhiều nguyên nhân khác nhau như không xác định được địa chỉ, chủ thể là con nợ của doanh nghiệp phá sản cũng như chủ nợ của các doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản vì những thông tin này trong danh sách mà toà án cung cấp rất chung chung hoặc thông tin đã lạc hậu... Đối với những trường hợp đã có quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, chuyển sang giai đoạn thi hành án thì những vướng mắc tương tự cũng không khắc phục được.

Để phần nào khắc phục được những vướng mắc này, Toà án có thẩm quyền, Tổ quản lý, thanh lý tài sản trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản doanh nghiệp cần xác minh, tìm hiểu và lập hồ sơ về danh sách các chủ nợ, con nợ của doanh nghiệp một cách chi tiết, đầy đủ. Mặt khác, đối với những quy định pháp luật về phá sản doanh nghiệp, cần có sự rà soát, đánh giá lại để tìm ra những bất cập, hạn chế nhằm sớm sửa đổi, hoàn thiện, đảm bảo việc áp dụng trên thực tế được hiệu quả hơn.

11. Cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án mà có tranh chấp với người khác

Theo quy định tại Điều 75 Luật Thi hành án dân sự: "Trường hợp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án mà có tranh chấp với người khác thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết". Thực tế cho thấy rất nhiều trường hợp đương sự thực hiện khởi kiện tại Toà án theo hướng dẫn của Chấp hành viên, nhưng Toà án không thụ lý vụ việc, trong khi đó cũng theo Điều 75 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì Chấp hành viên xử lý tài sản đã kê biên theo quyết định của Toà án, cơ quan có thẩm quyền. Việc Toà án không thụ lý trong trường hợp này dẫn đến hậu quả khó xử lý tài sản đã kê biên, vì không thể xác định được quyền sở hữu tài sản mà Chấp hành viên đã tiến hành kê biên. Do đó, trong trường hợp này, Bộ luật Tố tụng dân sự cần có Điều luật quy định cụ thể về thời hạn, căn cứ, lý do cho việc thụ lý hay không thụ lý và bổ sung vào loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án trong Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cơ quan thi hành án lưu ý cần thực hiện theo Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối để xác định 3 trường hợp đề nghị Tòa án xác định hoặc xác lập quyền sở hữu, sử dụng tài sản và tranh chấp tài sản đã kê biên.

12. Về cưỡng chế đối với tài sản kê biên là quyền sở hữu trí tuệ

Một trong những quy định mới của Luật Thi hành án dân sự là cưỡng chế đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP quy định tại Điều 16 chưa hướng dẫn về trình tự thủ tục, phương pháp định giá quyền sở hữu trí tuệ (theo yêu cầu tại khoản 2 Điều 85 Luật Thi hành án dân sự); quy định tại Điều 17 chưa hướng dẫn về trình tự, thủ tục bán đấu giá trong khi loại tài sản này cần phải có quy định riêng, không thể thực hiện như các loại tài sản hữu hình khác. Tương tự, việc kê biên quyền sở hữu trí tuệ để thực hiện Điều 84 Luật Thi hành án dân sự cũng cần phải có hướng dẫn cụ thể vì trong quyền sở hữu trí tuệ có rất nhiều loại như tác phẩm, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, bằng sáng chế..., trong đó mỗi loại có quyền nhân thân, quyền tài sản. Với sự đa dạng và phức tạp của quyền sở hữu trí tuệ, nếu không có hướng dẫn cụ thể thì Chấp hành viên (là người chưa có hiểu biết nhiều và chưa có kinh nghiệm về quyền sở hữu trí tuệ) rất dễ nhầm lẫn, sai sót, có thể dẫn đến bồi thường.

13. Cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc

Điều 121 Luật Thi hành án dân sự quy định về cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc, theo đó điểm mới là Chấp hành viên có quyền đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người sử dụng lao động không chấp hành án, nhưng vì không có Thông tư liên tịch giữa Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao nên nếu cơ quan thi hành án dân sự đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 Bộ luật Hình sự thì cũng khó chấp nhận.

14. Cơ chế phối hợp giữa cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự với cơ quan thi hành án dân sự trong việc thu tiền thi hành án

Khoản 3 Điều 180 Luật Thi hành án dân sự quy định cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành dân sự thu tiền thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. Tuy nhiên, thời gian quan, khi cơ quan thi hành án dân sự có văn bản phối hợp và cử cán bộ đến các trại giam, trại tạm giam xác minh tiền lưu ký, thu tiền thi hành án thì các trại giam, trại tạm giam cho biết chưa có văn bản hướng dẫn của Bộ Công an, đồng thời yêu cầu phải có giấy giới thiệu của Bộ Công an, mới thực hiện. Điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của người được thi hành án, quyền của người phải thi hành án (trong các đợt xét đặc xá, xét giảm thời gian chấp hành hình phạt tù cho các phạm nhân), gây khó khăn cho công tác thi hành án dân sự, nhất là các trại giam, trại tạm giam không đóng trên cùng một địa bàn tỉnh.

15. Tương trợ tư pháp về thi hành án dân sự

- Khoản 3 Điều 126 Luật Thi hành án dân sự quy định đối với giấy tờ liên quan đến tài sản, nhân thân của đương sự thì hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo nếu đương sự không đến nhận, Chấp hành viên làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan đã ban hành giấy tờ đó xử lý theo quy định. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định trường hợp cơ quan ban hành giấy tờ có trụ sở ở nước ngoài thì thực hiện trả lại giấy tờ như thế nào.

Do vậy, trong trường hợp cơ quan ban hành giấy tờ có trụ sở ở nước ngoài thì thực hiện tương trợ tư pháp. Văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp và các tài liệu kèm theo được dịch ra ngôn ngữ quy định tại Điều 5 Luật Tương trợ tư pháp và gửi tới Vụ Pháp luật Quốc tế, Bộ Tư pháp đề nghị uỷ thác cho cơ quan có thẩm quyền.

- Điều 181 Luật Thi hành án dân sự quy định tương trợ tư pháp về thi hành án như sau:

“1. Việc yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành án, việc tiếp nhận và xử lý uỷ thác tư pháp về thi hành án của nước ngoài trong quá trình thi hành án được thựuc hiện theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp.

2. Cơ quan thi hành án dân sự có yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành án phải lập hồ sơ uỷ thác tư pháp theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp”.

Việc thi hành án dân sự đối với bản án, quyết định có yếu tố nước ngoài hiện nay pháp Luật Thi hành án dân sự hiện hành chưa có quy định cụ thể thủ tục uỷ thác tư pháp quốc tế về thi hành án dân sự hoặc việc xác minh điều kiện thi hành án và thực hiện việc thi hành án tại nước ngoài như thế nào. Do đó, đến nay việc chỉ đạo về  thi hành án đối với người nước ngoài vẫn đang có khó khăn.

Lưu ý: Đối với trường hợp bản án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, ngươì phải thi hành án là người nước ngoài, đang cư trú ở nước ngoài có địa chỉ rõ ràng. Cơ quan thi hành án cần gửi 03 bộ hồ sơ thi hành án (01 bản gốc và 02 bản sao) kèm công văn đề nghị Vụ Pháp luật Quốc tế, Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ tới cơ quan có thẩm quyền (nơi người phải thi hành án cư trú) để tiếp tục thi hành bản án.

Để công tác thi hành án dân sự hiệu quả hơn thì cần sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự, theo đó đề nghị bổ sung quy định về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các vụ, việc dân sự liên quan đến thi hành án dân sự sau đây: Giải quyết việc xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo yêu cầu của người được thi hành án hoặc Chấp hành viên (Khoản 1 Điều 74, Luật Thi hành án dân sự). Giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản theo yêu cầu của đương sự, Chấp hành viên (khoản 1 Điều 102, Luật Thi hành án dân sự). Giải quyết việc bồi thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá tài sản bị huỷ (Khoản 3, Điều 102, Luật Thi hành án dân sự). Thụ lý và kịp thời giải quyết yêu cầu khác của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thuộc thẩm quyền của Toà án phát sinh trong quá trình thi hành án.

Sửa đổi, bổ sung một số quy định trong các đạo luật liên quan đến công tác thi hành án, như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở... nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ, tăng cường hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Các cơ quan có thẩm quyền sớm ban hành các văn bản hướng dẫn để tháo gỡ những vướng mắc nêu trên, đặc biệt là quy định về việc thẩm định giá, nghiên cứu, xem xét, sửa đổi quy định về bán đấu giá tài sản theo hướng sau khi giảm giá một số lần mà không có người mua thì giao tài sản kê biên cho người được thi hành án để trừ vào số tiền được thi hành án; nếu người được thi hành án không nhận thì  tài sản được trả lại cho người phải thi hành án.

Bổ sung kinh phí từ ngân sách cho cơ quan thi hành án dân sự để tạm ứng chi cho việc cưỡng chế thi hành án; kinh phí chi bồi dưỡng cho cán bộ xã, phường trong việc xác minh, tống đạt các quyết định, giấy tờ về thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án cho đương sự, người phải thi hành án. Để thi hành phần nghĩa vụ dân sự của người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù, cần khẩn trương ban hành văn bản hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa các trại giam và cơ quan thi hành án để tạo điều kiện thuận lợi về mặt thời gian cho người phải thi hành án đủ điều kiện xem xét ra tù trước thời hạn.

Ban hành văn bản hướng dẫn về kê biên, định giá, bán đấu giá tài sản là quyền sở hữu trí tuệ; thời điểm để xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản khi Chấp hành viên tiến hành kê biên tài sản; xử lý khoản tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự. Tăng cường hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ thi hành án dân sự nhằm tạo ra sự thống nhất cao trong việc triển khai thực hiện công tác trong toàn ngành. Xây dựng các cơ cấu, tổ chức cần thiết phục vụ cho công tác tham mưu, tư vấn cho Lãnh đạo các cấp trong ngành để bảo đảm xử lý nhanh, đúng đắn, hợp pháp các vụ việc. Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành tạo sự đồng thuận, nhất trí trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự. Thường xuyên trao đổi thông tin; tổ chức các hoạt động phối hợp trong công tác chỉ đạo, kiểm tra, xử lý các vấn đề chuyên môn, nghiệp vụ giữa ngành thi hành án dân sự với các cơ quan Toà án, Kiểm sát, Công an, Tài chính... để hoàn thiện thể chế và giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến công tác thi hành án dân sự./.

                                                                                       Bảo Minh



( Ngày 11 tháng 01 năm 2011 )    
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP
Địa chỉ: 60 Trần Phú, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại: 04.62739718 - Fax: 04.62739359. Email: banbientap@moj.gov.vn; cntt@moj.gov.vn.
Giấy phép cung cấp thông tin trên internet số 28/GP-BC ngày 25/03/2005.
Trưởng Ban biên tập: Nguyễn Tiến Dũng - Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin.
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.