Quy định trách nhiệm, thẩm quyền của Ủy ban Kiểm tra trong công tác phòng, chống tham nhũng

30/05/2018
Thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng vừa ký ban hành Quy định số 01-QĐi/TW của Bộ Chính trị về trách nhiệm và thẩm quyền của Ủy ban Kiểm tra trong công tác phòng, chống tham nhũng. Văn bản này quy định trách nhiệm và thẩm quyền của Ủy ban Kiểm tra từ cấp huyện và tương đương trở lên trong công tác phòng, chống tham nhũng.
Quy định gồm có 4 Chương, 8 điều quy định về phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc thực hiện, trách nhiệm và thẩm quyền của Ủy ban kiểm tra về phòng ngừa tham nhũng; phát hiện vi phạm về tham nhũng; kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm và giải quyết tố cáo và xử lý hành vi tham nhũng; trách nhiệm của cấp ủy đảng và ủy ban kiểm tra trong tổ chức thực hiện.
Theo đó, Ủy ban Kiểm tra phải chủ động thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền theo quy định của Điều lệ Đảng; Coi trọng công tác phòng ngừa, khi phát hiện đảng viên có hành vi tham nhũng phải kiểm tra, xem xét và xử lý nghiêm minh, chính xác, kịp thời.
Đảng viên ở bất cứ cương vị công tác nào, có dấu hiệu tham nhũng đều phải được xem xét làm rõ và xử lý nghiêm theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, không có "vùng cấm"; Xử lý nghiêm tổ chức đảng, đảng viên có hành vi dung túng, bao che tham nhũng hoặc cản trở, can thiệp trái quy định vào việc xử lý các vụ việc tham nhũng.
Để phòng ngừa tham nhũng, Ủy ban Kiểm tra có trách nhiệm giám sát việc triển khai và kê khai, công khai tài sản; giám sát đảng viên trong việc thực hiện trách nhiệm nêu gương, giữ gìn đạo đức, lối sống; đảng viên có dư luận bất minh về tài sản và sinh hoạt, trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; giám sát đảng viên có trách nhiệm trực tiếp đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
Cơ quan kiểm tra cũng có trách nhiệm tiếp nhận và xử lý đơn, thư phản ánh, tố cáo về tham nhũng theo thẩm quyền phục vụ cho việc phát hiện tham nhũng; thu thập thông tin có liên quan đến tham nhũng từ các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị quản lý cán bộ, đảng viên và thông qua tự phê bình, phê bình trong tổ chức đảng.
Liên quan việc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm và giải quyết tố cáo về tham nhũng, Quy định nêu rõ: "Ủy ban Kiểm tra có quyền yêu cầu đảng viên không được xuất cảnh; khi cần thiết đề nghị các cơ quan có thẩm quyền tạm hoãn xuất cảnh theo quy định của pháp luật đối với đảng viên có dấu hiệu tham nhũng và có biểu hiện bỏ trốn".
Ủy ban Kiểm tra có thẩm quyền yêu cầu đảng viên giữ nguyên hiện trạng tài sản; khi cần thiết, đề nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản và các biện pháp khác theo quy định của pháp luật đối với đảng viên có dấu hiệu tham nhũng và có biểu hiện che giấu, tẩu tán tài sản.
Ủy ban Kiểm tra cũng có trách nhiệm yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét, xử lý kỷ luật về hành chính, bố trí lại công tác đối với đảng viên có hành vi tham nhũng chưa đến mức xử lý hình sự; xử lý hoặc kiến nghị xử lý về trách nhiệm người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trong việc để xảy ra tham nhũng hoặc bao che tham nhũng.../.