Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá

07/08/2012

 Ngày 02 tháng 7 năm 2012 Chủ tịch nước ký Lệnh số 07/2012/L-CTN về việc công bố Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá.

 Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012.

          Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá có 05 chương với 35 điều quy định về các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, biện pháp kiểm soát nguồn cung cấp thuốc lá và điều kiện bảo đảm để phòng, chống tác hại của thuốc lá.

          Theo Luật này, công dân có quyền: Được sống, làm việc trong môi trường không có khói thuốc lá; Yêu cầu người hút thuốc lá không hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm hút thuốc lá; Vận động, tuyên truyền người khác không sử dụng thuốc lá, cai nghiện thuốc lá; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người có hành vi hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm hút thuốc lá; Phản ánh hoặc tố cáo cơ quan, người có thẩm quyền không xử lý hành vi hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm hút thuốc lá.

          Luật quy định 09 nhóm hành vi bị nghiêm cấm: Sản xuất, mua bán, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển thuốc lá giả, sản phẩm được thiết kế có hình thức hoặc kiểu dáng như bao, gói hoặc điếu thuốc lá; mua bán, tàng trữ, vận chuyển nguyên liệu thuốc lá, thuốc lá nhập lậu; Quảng cáo, khuyến mại thuốc lá; tiếp thị thuốc lá trực tiếp tới người tiêu dùng dưới mọi hình thức; Người chưa đủ 18 tuổi sử dụng, mua, bán thuốc lá; Sử dụng người chưa đủ 18 tuổi mua, bán thuốc lá; Bán, cung cấp thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi; Bán thuốc lá bằng máy bán thuốc lá tự động; hút, bán thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm; Sử dụng hình ảnh thuốc lá trên báo chí, xuất bản phẩm dành riêng cho trẻ em; Vận động, ép buộc người khác sử dụng thuốc lá.

          Các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá gồm: Thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá; quy định địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn (là cơ sở y tế, cơ sở giáo dục, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi, giải trí dành riêng cho trẻ em; cơ sở hoặc khu vực có nguy cơ cháy, nổ cao; nơi làm việc; trong ô tô, tàu bay, tàu điện); quy định địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà nhưng có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá (như khu vực cách ly của sân bay; quán bar, karaoke, vũ trường, khách sạn và cơ sở lưu trú du lịch; trên tàu thủy, tàu hỏa); ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá; cai nghiện thuốc lá.

          Các biện pháp kiểm soát nguồn cung cấp thuốc lá: quy định Kinh doanh thuốc lá là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; Việc đầu tư trồng cây thuốc lá, chế biến nguyên liệu và sản xuất thuốc lá phải phù hợp với quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Nhà nước thực hiện quản lý sản lượng thuốc lá được phép sản xuất và nhập khẩu; kiểm soát dán tem hoặc in mã số, mã vạch trên bao bì thuốc lá; quản lý năng lực máy, thiết bị chuyên ngành thuốc lá; quản lý nguyên liệu thuốc lá và giấy cuốn điếu thuốc lá; quản lý nguồn gốc, sự di chuyển và tính hợp pháp của thuốc lá; quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc lá; Doanh nghiệp, đại lý bán buôn, đại lý bán lẻ thuốc lá phải có Giấy phép bán thuốc lá theo quy định của Chính phủ.

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm 2013. Bao, tút, hộp thuốc lá được sản xuất, nhập khẩu để tiêu thụ tại thị trường Việt Nam theo quy định tương ứng của pháp luật về ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trước ngày Luật này có hiệu lực sẽ không được sử dụng sau 06 tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực.



Các tin đã đưa ngày: