Nghị định số 13/2012/NĐ-CP ngày 02 tháng 3 năm 2012 của Chính phủ ban hành Điều lệ sáng kiến

05/04/2012

 Ngày 02/3/2012 Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2012/NĐ-CP ban hành Điều lệ sáng kiến. Điều lệ này quy định chi tiết về điều kiện, thủ tục công nhận sáng kiến, quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư tạo ra sáng kiến, tác giả sáng kiến và người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu…

        Theo quy định tại Điều lệ này, sáng kiến là giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp, hoặc giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật được cơ sở công nhận nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện: có tính mới trong phạm vi cơ sở đó; đã được áp dụng hoặc áp dụng thử tại cơ sở đó và có khả năng mang lại lợi ích thiết thực; không thuộc đối tượng bị loại trừ (không được công nhận là sáng kiến).

          Tác giả sáng kiến có thể yêu cầu công nhận sáng kiến tại các cơ sở: Tại cơ sở là chủ đầu tư tạo ra sáng kiến; tại cơ sở được tác giả sáng kiến chuyển giao theo thoả thuận giữa hai bên, trong trường hợp tác giả sáng kiến đồng thời là chủ đầu tư tạo ra sáng kiến. Việc xét công nhận sáng kiến được thực hiện trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấp nhận đơn yêu cầu công nhận sáng kiến hoặc từ ngày hoàn thành việc áp dụng lần đầu, nếu sáng kiến được áp dụng lần đầu sau khi đơn được chấp nhận.

          Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến có quyền đối sáng kiến đó đã được công nhận: áp dụng sáng kiến, chuyển giao sáng kiến cho tổ chức, cá nhân khác áp dụng.

          Tác giả sáng kiến có quyền đối với sáng kiến đã được công nhận: được ghi nhận là tác giả sáng kiến trong Giấy chứng nhận sáng kiến và được nêu danh tác giả sáng kiến khi sáng kiến được phổ biến, giới thiệu; được nhận thù lao; được hưởng các chế độ khuyến khích theo quy định của pháp luật về thi đua - khen thưởng và pháp luật về khoa học – công nghệ; được áp dụng và chuyển giao sáng kiến cho tổ chức, cá nhân khác.

          Việc trả thù lao cho tác giả sáng kiến và người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu được thực hiện theo sự thoả thuận giữa các bên. Trong trường hợp không có sự thoả thuận, mà chủ đầu tư tạo ra sáng kiến là tổ chức kinh tế hoặc đơn vị sự nghiệp có thu và hạch toán độc lập thì việc trả thù lao cho tác giả sáng kiến được thực hiện như sau:

          - Thù lao hàng năm trong 03 năm đầu tiên áp dụng sáng kiến trả trong thời hạn 01 tháng tính từ ngày kết thúc mỗi năm áp dụng, với mức tối thiểu 7% tiền làm lợi thu được do áp dụng sáng kiến của mỗi năm (nếu không tính được tiền làm lợi do áp dụng sáng kiến thì trả tối thiểu 5 lần mức lương tối thiểu chung ttheo quy định của Nhà nước tại thời điểm trả thù lao).

          - Thù lao trả trong 03 năm kể từ ngày sáng kiến được công nhận, cho mỗi lần chuyển giao sáng kiến cho tổ chức, cá nhân khác áp dụng, trả trong thời hạn 01 tháng tính từ ngày nhận thanh toán của mỗi lần chuyển giao, với mức tối thiểu 15% giá chuyển giao.

          Tác giả sáng kiến có nghĩa vụ: Cung cấp đầy đủ các thông tin về sáng kiến đến mức có thể áp dụng được cho cơ sở công nhận sáng kiến; tham gia triển khai áp dụng sáng kiến lần đầu; giữ bí mật thông tin về sáng kiến theo thoả thuận với chủ đầu tư tạo ra sáng kiến và theo quy định của pháp luật; trả thù lao cho những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu.

          Người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu có nghĩa vụ: Cung cấp các thông tin chi tiết về việc áp dụng sáng kiến cho tổ chức xét công nhận sáng kiến; giữ bí mật thông tin theo thoả thuận với chủ đầu tư tạo ra sáng kiến và theo quy định của pháp luật.

          Trong trường hợp đối tượng là sáng kiến đã được công nhận, sau đó được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thì từ thời điểm quyền sơ hữu trí tuệ được xác lập, các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ được áp dụng đối với đối tượng đó, thay thế các quy định về sáng kiến.

          Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2012, thay thế các quy định về sáng kiến của Điều lệ về sáng kiến, cải tiến kỹ thuật - hợp lý hoá sản xuất và sáng chế ban hành kèm theo Nghị định số 31-CP ngày 23/01/1981, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 84-HĐBT ngày 20/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).



Các tin cũ hơn
Các tin đã đưa ngày: