Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức

22/06/2011

Theo Nghị định này, các hành vi sau đây sẽ bị xử lý kỷ luật: Công chức vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ, đạo đức và văn hóa giao tiếp của công chức trong thi hành công vụ; những việc công chức không được làm quy định tại Luật cán bộ, công chức; vi phạm pháp luật bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật; vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm.

Những trường hợp sau chưa xem xét xử lý kỷ luật: Công chức đang trong thời gian nghỉ hàng năm, nghỉ theo chế độ, nghỉ việc riêng được người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cho phép; đang trong thời gian điều trị có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền; công chức nữ đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi; đang bị tạm giữ, tạm giam chờ kết luận thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật.

Công chức được cơ quan có thẩm quyền xác nhận tình trạng mất năng lực hành vi dân sự khi vi phạm pháp luật; phải chấp hành quyết định của cấp trên; được cấp có thẩm quyền xác nhận vi phạm pháp luật trong tình thế bất khả kháng trong khi thi hành công vụ sẽ được miễn trách nhiệm kỷ luật.

Bên cạnh đó, Nghị định quy định việc áp dụng hình thức kỷ luật đối với công chức, cụ thể:

- Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, áp dụng các hình thức kỷ luật: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, buộc thôi việc.

- Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo,quản lý, áp dụng các hình thức kỷ luật: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc.

Ngoài ra, Nghị định cũng quy định rõ thẩm quyền xử lý kỷ luật, trình tự, thủ tục xem xét xử lý kỷ luật như sau:

+ Thẩm quyền xử lý kỷ luật: Với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền bổ nhiệm tiến hành xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật. Với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cơ quan quản lý hoặc người đứng đầu cơ quan được phân cấp quản lý công chức tiến hành xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật. Với công chức biệt phái, người đứng đầu cơ quan nơi công chức được cử đến biệt phái tiến hành xử lý kỷ luật, quyết định hình thức kỷ luật và gửi hồ sơ, quyết định kỷ luật về cơ quan quản lý công chức biệt phái.

+ Trình tự, thủ tục xem xét xử lý kỷ luật công chức, Nghị định quy định như sau: Tổ chức họp kiểm điểm công chức có hành vi vi phạm pháp luật. Tiếp đó, người có thẩm quyền xử lý kỷ luật quyết định thành lập Hội đồng kỷ luật để tư vấn việc áp dụng hình thức kỷ luật đối với công chức có hành vi vi phạm pháp luật. Sau đó, tổ chức họp Hội đồng kỷ luật và ra quyết định xử lý kỷ luật. Công chức bị xử lý kỷ luật có quyền khiếu nại đối với quyết định kỷ luật theo quy định của pháp luật.

Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 05/7/2011, bãi bỏ những quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức tại Nghị định số 35/2005/NĐ-CP; Nghị định số 103/2007/NĐ-CP quy định về việc xử lý kỷ luật đối với công chức; Nghị định số 107/2006/NĐ-CP quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách trái với quy định tại Nghị định này.



Các tin cũ hơn
Các tin đã đưa ngày: