TRANG CHÍNH » NGHIỆP VỤ

Tên tài liệu
Lĩnh vực
Khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực bảo vệ môi trường đang diễn ra gay gắt ở các địa phương, đặc biệt là cấp xã. UBND xã đang rất lúng túng về vấn đề này. Để đáp ứng yêu cầu giải quyết khiếu nại tố cáo về lĩnh vực bảo vệ môi trường ở cấp xã, chúng tôi xin giới thiệu chuyên đề này để cung cấp các cơ sở pháp lý và các biện pháp nghiệp vụ, phần nào giúp cho UBND cấp xã tháo gỡ vấn đề này.

I. CƠ SỞ PHÁP LÝ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA UBND CẤP XÃ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 

1. Các khái niệm về khiếu nại, tố cáo  

Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân. Điều này đã được ghi nhận tại Điều 74 Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào". Khiếu nại, tố cáo là hình thức dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền khiếu nại, tố cáo của mình và tham gia giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tinh thần đó đã được thể chế hoá tại Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 và đã được sửa đổi bổ sung tại các Luật sửa đổi, bổ sung  một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo năm 2004 và năm 2005 (sau đây gọi tắt là Luật khiếu nại, tố cáo hiện hành).

a. Khiếu nại

          Điều 2 của Luật khiếu nại, tố cáo hiện hành quy định về khiếu nại và các chủ thể có liên quan như sau:

a.1. Khiếu nại:

           “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do pháp luật quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.” (khoản1)

a.2. Người khiếu nại:

          “Người khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức thực hiện quyền khiếu nại”. (khoản 3)

a.3. Người bị khiếu nại

Người bị khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật bị khiếu nại.” (khoản 6)

a.4. Người giải quyết khiếu nại:

          “Người giải quyết khiếu nại” là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.”. (khoản 8)

Luật Khiếu nại, tố cáo quy định “người giải quyết khiếu nại” bao gồm:

+ Chủ tịch UBND các cấp (cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh);

+ Thủ trưởng các cơ quan trực thuộc UBND  cấp huyện, cấp tỉnh;

+ Thủ trưởng cơ quan thuộc cấp Sở, cấp Bộ;

+ Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ;

+ Tổng Thanh tra.

(Thủ tướng Chính phủ không phải là một cấp giải quyết khiếu nại mà chỉ có thẩm quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức).

Luật khiếu nại, tố cáo hiện hành đã có quy định cụ thể về thẩm quyền của từng chủ thể nêu trên. Riêng đối với khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là người đã ra quyết định kỷ luật. Nếu có khiếu nại tiếp theo thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo (giống như ở khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính ở trên) sẽ giải quyết, hoặc trong trường hợp nhất định, Bộ trưởng Bộ Nội vụ sẽ là người có thẩm quyền giải quyết.

b. Tố cáo

          Cũng tại Điều 2 của Luật Khiếu nại, tố cáo hiện hành đã quy định:

b.1. Tố cáo:

Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do pháp luật quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.” (khoản 2)

b.2. Người tố cáo:

Người tố cáo là công dân thực hiện quyền tố cáo.” (khoản 5). Khác với “người khiếu nại”, “người tố cáo” chỉ là công dân- người vì lợi ích của nhà nước, của tập thể và của công dân mà báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết để có biện pháp ngăn chặn hoặc xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật.

b.3. Người bị tố cáo:

Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo” (khoản 7).

b.4. Người giải quyết tố cáo:

Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo”.  Thẩm quyền giải quyết tố cáo đã được pháp luật về khiếu nại, tố cáo hiện hành quy định thành nguyên tắc rất cụ thể, rõ ràng. Theo đó, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết. Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người thuộc cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.

Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.

Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Tố cáo hành vi phạm tội sẽ do các cơ quan tiến hành điều tra giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trách nhiệm giải quyết tố cáo được giao cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức. Trường hợp cần thiết thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức này có thể giao cho UBND cấp xã hoặc cơ quan khác có thẩm quyền tiến hành thẩm tra, xác minh, kết luận và kiến nghị biện pháp xử lý.  

2. Trách nhiệm và thẩm quyền của UBND cấp xã trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Tại khoản 3, Điều 122 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Uỷ ban nhân dân cấp xã như sau:

Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tại địa phương theo quy định sau đây:

a) Chỉ đạo, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường trên địa bàn, khu dân cư thuộc phạm vi quản lý của mình; tổ chức vận động nhân dân xây dựng nội dung bảo vệ môi trường trong hương ước của cộng đồng dân cư; hướng dẫn việc đưa tiêu chí về bảo vệ môi trường vào trong việc đánh giá thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và gia đình văn hoá;

b) Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của hộ gia đình, cá nhân;

c) Phát hiện và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường hoặc báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp trên trực tiếp;

d) Hoà giải các tranh chấp về môi trường phát sinh trên địa bàn theo quy định của pháp luật về hoà giải;

đ) Quản lý hoạt động của thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và tổ chức tự quản về giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ môi trường trên địa bàn.”

- Tại khoản 3, Điều 123 của Luật Bảo vệ môi trường đã quy định cơ quan chuyên môn, cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường của Uỷ ban nhân dân cấp xã như sau:

Uỷ ban nhân dân cấp xã bố trí cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường.”.

- Điều 126. Trách nhiệm thực hiện kiểm tra, thanh tra bảo vệ môi trường

- Tại điểm đ, khoản 1, Điều 126 của Luật Bảo vệ môi trường đã quy định thẩm quyền:

Uỷ ban nhân dân cấp xã kiểm tra việc bảo vệ môi trường của hộ gia đình, cá nhân.

Trường hợp cần thiết, thanh tra bảo vệ môi trường các cấp, Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm giúp đỡ, phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp xã kiểm tra, thanh tra về bảo vệ môi trường đối với tổ chức, cá nhân có vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bảo vệ môi trường.”. 

3. Quyền khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Tại Điều 128 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã quy định  khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về môi trường như sau:

“1. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Toà án về hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

2. Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, người có thẩm quyền đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường sau đây:

a) Gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường;

b) Xâm phạm quyền, lợi ích của Nhà nước, cộng đồng dân cư, tổ chức, gia đình và cá nhân.

3. Cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền nhận được đơn khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và quy định của Luật này.”.  

- Theo nội dung nêu trên thì tổ chức, cá nhân chỉ có quyền khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Toà án về hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường khi hành vi vi phạm đó đã xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chính bản thân người khiếu nại. Theo tác giả thì khiếu nại ở đây phải xét theo 02 trường hợp:

          + Trường hợp 1: Nếu tổ chức, cá nhân khiếu nại một tổ chức, cá nhân khác có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (ví dụ: khiếu nại hộ gia đình A kinh doanh lò mổ đã đổ nước thải vào nguồn nước mà tổ chức, cá nhân khiếu nại đang sử dụng) thì khiếu nại này không phải là khiếu nại hành chính(vì khiếu nại hành chính chỉ nằm trong phạm vi khiếu nại hành vi hành chính và quyết định hành chính của cơ quan nhà nước) nhưng trong trường hợp này UBND xã vẫn phải cho kiểm tra và xử lý theo thẩm quyền như đã trình bày ở phần trên.

          + Trường hợp 2: Nếu tổ chức, cá nhân khiếu nại UBND xã có hành vi hành chính là không kiểm tra, xử lý theo thẩm quyền đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường thì nội dung khiếu nại này là khiếu nại hành chính. Cụ thể là sau khi UBND xã nhận được đơn khiếu nại hộ gia đình A kinh doanh lò mổ đã đổ nước thải vào nguồn nước mà UBND xã vẫn không cho kiểm tra và xử lý theo thẩm quyền thì khiếu nại này là khiếu nại hành chính.

          + Trường hợp 3: Nếu tổ chức, cá nhân khiếu nại quyết định hành chính của UBND xã trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì nội dung khiếu nại này là khiếu nại hành chính. Ví dụ khiếu nại về quyết định xử phạt hành chính của Chủ tịch UBND xã trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

-  Đối với quyền tố cáo thì bất cứ cá nhân, tổ chức nào (mặc dù không liên quan đến lợi ích trực tiếp của người tố cáo) cũng có quyền tố cáo đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường như: Gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường;  xâm phạm quyền, lợi ích của Nhà nước, cộng đồng dân cư, tổ chức, gia đình và cá nhân. Trong trường hợp này UBND xã phải tuân thủ theo Chương IV của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 và theo thẩm quyền quy định lại Luật Bảo vệ môi trường. Cụ thể là UBND xã phải tuân thủ theo khoản 3, Điều 122 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và phải tiến hành xác minh, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của hộ gia đình, cá nhân có đơn tố cáo vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường hoặc báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp trên trực tiếp.  

4. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân cấp xã trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Tại khoản 1, Điều 33 của Nghị định số 81/2006/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đã quy định:

“ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 500.000 đồng;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường có giá trị đến 500.000 đồng;

d) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường do hành vi vi phạm gây ra;

đ) Buộc tiêu huỷ hàng hoá, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường.”. 

II. NGHIỆP VỤ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA UBND CẤP XÃ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 

1. Giải quyết khiếu nại về hành vi hành chính, quyết định hành chính của UBND xã

Để giải quyết khiếu nại, UBND cấp xã phải thực hiện rất nhiều công việc, từ thụ lý đơn, nghiên cứu đơn, lập kế hoạch giải quyết cho đến xác minh, thu thập chứng cứ, làm rõ các nội dung khiếu nại, ra quyết định giải quyết khiếu nại, hoàn chỉnh hồ sơ, tài liệu... Tuy nhiên, có thể tóm lược việc giải quyết khiếu nại được chia làm 3 bước chính là : chuẩn bị giải quyết khiếu nại; xác minh, thu thập chứng cứ  và ra quyết định giải quyết khiếu nại, hoàn chỉnh hồ sơ.

* Chuẩn bị giải quyết khiếu nại:

Khi nhận được khiếu nại, UBND cấp xã căn cứ vào các quy định của pháp luật về khiếu nại để xác định xem vụ việc có đủ điều kiện thụ lý hay không. UBND cấp xã sẽ không thụ lý đối với các khiếu nại sau:

+ Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại;

+ Người khiếu nại không có năng lực hành vi đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

+ Người đại diện không hợp pháp;

+ Thời hiệu khiếu nại, thời hiệu khiếu nại tiếp đã hết;

+ Việc khiếu nại đã được Toà án thụ lý để giải quyết hoặc đã có bản án, quyết định của toà án.

Đối với những trường hợp khác không nằm trong các trường hợp nêu trên, UBND cấp xã phải có trách nhiệm thụ lý đơn khiếu nại và phân công cán bộ thụ lý để trực tiếp nghiên cứu, xác minh, kết luận, kiến nghị lên Chủ tịch UBND xã ra quyết định giải quyết khiếu nại.

Trên cơ sở đơn và các tài liệu mà người khiếu nại cung cấp, Cán bộ thụ lý phải tiến hành nghiên cứu kỹ để xác định nội dung khiếu nại của người khiếu nại bao gồm những vấn đề gì, yêu cầu của người khiếu nại là như thế nào, những căn cứ mà người khiếu nại đưa ra để chứng minh cho yêu cầu của họ có đúng pháp luật không, đã đầy đủ chưa...Đồng thời, có thể tiến hành việc tiếp xúc sơ bộ đối với người khiếu nại. Thông thường, đối với những vụ việc khiếu nại bức xúc, kéo dài thì người khiếu nại thường cho mình là người bị oan ức, quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm do vậy trong đơn của họ thường không phản ánh trung thực bản chất của vấn đề hoặc “thổi phồng” sự việc, thêm bớt tình tiết để có lợi cho mình, giấu giếm các chứng cứ để làm sai lệch thông tin, làm lạc hướng sự nhận định của người giải quyết khiếu nại. Do vậy, người giải quyết khiếu nại trong những trường hợp nhất định, để làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của vụ việc mà mình chưa rõ, cần thiết phải tiếp xúc, đối thoại với đương sự nhằm khẳng định những nội dung khiếu nại và yêu cầu của họ, qua đó cũng có thể khai thác thêm phần nào những thông tin liên quan đến vụ việc bị khiếu nại.

Cán bộ thụ lý cần phải thu thập các văn bản pháp lý liên quan đến giải quyết vụ việc để làm căn cứ giải quyết khiếu nại. Đó có thể là các văn bản, tài liệu liên quan đến quyết định, hành vi bị khiếu nại hay những văn bản, tài liệu mà nội dung đơn thư khiếu nại đã đề cập đến như là những căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại hoặc những văn bản pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực có liên quan đến vụ việc phát sinh...

Bước tiếp theo là lập kế hoạch giải quyết vụ việc. Kế hoạch giải quyết phải bao gồm một số nội dung công việc sau:

+ Mục đích, yêu cầu của việc giải quyết; những nội dung cần nghiên cứu, bổ sung;

+ Những nội dung khiếu nại cần phải thẩm tra, xác minh;

+ Những yêu cầu mà đối tượng bị khiếu nại phải giải trình;

+ Địa điểm, các đối tượng cần xác minh;

+ Dự kiến các tình huống phát sinh trong quá trình giải quyết;

+ Dự kiến lịch làm việc, tiến độ thời gian;

+ Các điều kiện bảo đảm cho việc giải quyết khiếu nại (nhân lực, phương tiện, kinh phí….).

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều cần phải lập kế hoạch giải quyết mà tuỳ tính chất, mức độ phức tạp của từng vụ việc khiếu nại cụ thể, Cán bộ thụ lý sẽ có hai hướng giải quyết khác nhau: nếu vụ việc đơn giản, chứng cứ, tài liệu đã rõ ràng (nội dung vụ việc đã được thể hiện đầy đủ qua các tài liệu mà người giải quyết khiếu nại có), có thể đưa ra ngay kết luận thì không cần phải lập kế hoạch giải quyết, không cần tiến hành xác minh, thu thập thêm chứng cứ. Những vụ việc có tính chất phức tạp, tài liệu, chứng cứ hiện có không đủ để kết luận chính xác và có căn cứ pháp lý về nội dung khiếu nại thì mới cần phải lập kế hoạch giải quyết và tiến hành bước xác minh tiếp.

*  Tiến hành thẩm tra, xác minh:

Thẩm tra, xác minh là nhằm mục đích thu thập chứng cứ, tài liệu làm cơ sở cho Cán bộ thụ lý nhận xét chính xác, khách quan, đúng pháp luật về vụ việc, từ đó mới ra quyết định giải quyết khiếu nại được chính xác, đủ căn cứ, bảo vệ được lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.

Đây là khâu rất quan trọng trong quá trình xem xét, giải quyết vụ việc khiếu nại. Khiếu nại có được giải quyết kịp thời, đúng chính sách pháp luật hay không  phụ thuộc rất nhiều vào việc xác minh, thu thập chứng cứ.

Khi tiến hành xác minh, cần phải khách quan, trung thực, chú ý tìm hiểu bản chất của sự việc dẫn đến khiếu nại. Điều quan trọng là xác minh rõ nguồn gốc của chứng cứ, mức độ trung thực và chính xác của chứng cứ. Tuy nhiên, trong quá trình xác minh, cũng cần phải xem xét đến cả tính hợp pháp, tính hợp lý của vấn đề mà các bên nêu ra. Chú ý phải  lập  biên bản  từng vụ việc, từng nội dung xác minh..

Để tiến hành xác minh đạt kết quả tốt, cần phải vận dụng khéo léo, linh hoạt các biện pháp nghiệp vụ nhằm thu thập thông tin, chứng cứ. Cán bộ xác minh có thể thu thập thông tin từ các nguồn sau:

+ Người khiếu nại: việc gặp gỡ, tiếp xúc với người khiếu nại là công việc mang tính bắt buộc đối với người giải quyết khiếu nại lần đầu. Luật khiếu nại, tố cáo hiện hành quy định: “Người giải quyết khiếu nại lần đầu phải gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại”.

+ Người bị khiếu nại: UBND xã có quyền triệu tập người bị khiếu nại đến để giải trình rõ sự việc, lời giải trình phải được thể hiện bằng văn bản chính thức do người có thẩm quyền ký.

+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan: đây là những người biết được những thông tin liên quan đến vụ việc hoặc có mối quan hệ nào đó với nội dung của vụ việc mà Cán bộ thụ lý cần thiết phải gặp gỡ, tiếp xúc nhằm làm rõ những thông tin nhất định, từ đó mới có đủ cơ sở để kết luận một cách khách quan, toàn diện về vấn đề.

Trong quá trình xác minh, tuỳ thuộc vào nội dung khiếu nại để cán bộ xác minh xác định cần gặp gỡ, làm việc, lấy lời khai của ai. Sau đây người nào được Cán bộ thụ lý chọn để làm việc, thu thập tài liệu chứng cứ được gọi là đối tượng xác minh (viết tắt là ĐTXM).

Trong quá trình giải quyết khiếu nại nếu xét thấy việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu nại sẽ gây hậu quả khó khắc phục thì Cán bộ thụ lý  kiến nghị Chủ tịch UBND xã ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó. Quyết định tạm đình chỉ phải được gửi cho người khiếu nại hoặc người có quyền, lợi ích liên quan. Quyết định tạm đình chỉ sẽ bị huỷ khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn.

Sau khi đã xác minh, thẩm tra hết các nội dung, đối tượng liên quan, Cán bộ thụ lý cần so sánh, đối chiếu với các văn bản pháp luật hiện hành, các quy định của cơ quan, đơn vị người bị khiếu nại; so sánh, đối chiếu giữa các chứng cứ thu thập được để phân tích, đi đến nhận định rõ việc khiếu nại đúng hay sai, từ đó kết luận từng vấn đề và đưa ra phương hướng giải quyết cụ thể.

Đặc biệt chú ý khi sử dụng những thông tin do ĐTXM cung cấp thông qua việc Cán bộ thụ lý đối thoại, lấy lời khai thì Cán bộ thụ lý phải lập biên bản ghi lời khai theo yêu cầu sau:

          ? Biên bản phải chính xác, cụ thể trung thực.

          Người lập biên bản không được trình bày vấn đề, nhận xét, đánh giá, kết luận theo chủ quan của mình trong quá trình xác minh.

          ? Biên bản phải được phản ánh có trọng tâm, trọng điểm.

          Biên bản phải đảm bảo đầy đủ các thủ tục pháp lý.

Khi lập biên bản lấy lời khai ĐTXM cần tránh lối ghi cẩu thả, ghi miên man, dài dòng, chữ viết phải rõ ràng, dễ đọc, không tẩy xoá, phải dùng từ phổ thông, dễ hiểu, trong sáng, rõ nghĩa. Nếu có từ ngữ nước ngoài phải ghi theo phiên âm tiếng Việt và giải thích rõ nghĩa.

Đặc biệt, để đảm bảo thu thập chứng cứ một cách khách quan, toàn diện thì khi đối thoại, lấy lời khai của người liên quan thì Cán bộ thụ lý phải thận trọng kiểm tra, đánh giá xem những vấn đề mà họ cung cấp có đúng sự thật hay không để sử dụng vào việc đấu tranh với ĐTXM, xác định càng chính xác bao nhiêu thì giá trị chứng cứ càng vững chắc bấy nhiêu.

Người liên quan khai báo đến đâu, ta phải kiểm tra ngay những vấn đề cần thiết đó. Tránh tình trạng lấy khai của người liên quan liên miên đến cuối cùng mới kiểm tra, xác minh. Sau mỗi lần kiểm tra tài liệu họ cung cấp, ta lại có kế hoạch và biện pháp lấy lời khai thêm.

Ngoài việc kiểm tra nội dung, còn phải kiểm tra cả về phương pháp lấy lời khai nữa. Vì nếu phương pháp lấy lời khai không khoa học, không khách quan thì lời khai của ĐTXM cũng sẽ không chính xác, không đầy đủ.

Ba biện pháp để kiểm tra lời khai của ĐTXM:

?Đối chiếu lời khai trước với lời khai sau, lời khai của ĐTXM này với lời khai của ĐTXM khác;

Đối chiếu lời khai của người liên quan với các tài liệu, chứng cứ đã có trong hồ sơ giải quyết khiếu nại với tình hình thực tế của vụ việc đã sẩy ra mà ta đã biết qua các nguồn khác (vật chứng, giám định chuyên môn....);

?Dùng các biện pháp kỹ thuật hỗ trợ (như lấy ý kiến của các cơ quan chuyên môn, trưng cầu giám định…) để nhận định đúng sai. Ngoài ra ta có thể áp dụng phương pháp kiểm tra lời khai tại chỗ; phương pháp khẳng định sự có mặt của người liên quan trong thời gian sẩy ra sự kiện; xác minh về nhân thân người liên quan, dùng điện thoại, áp dụng công nghệ tin học (thông tin qua mạng)... để kiểm tra lời khai của người liên quan.

Các biện pháp trên đây bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà kiểm tra bằng biện pháp này hay biện pháp khác. Không phải lúc nào cũng sử dụng tất cả các biện pháp để kiểm tra. Cán bộ thụ lý phải lấy sự kiện thực tế làm cơ sở để xác định đúng, sai, tránh vội tin ngay vào lời khai của ĐTXM hay kiểm tra một cách qua loa, đại khái.

Kết thúc bước thẩm tra, xác minh, Cán bộ thụ lý sẽ phải soạn thảo văn bản "Báo cáo kết quả xác minh". Báo cáo này phải tổng hợp toàn bộ phần công việc đã thực hiện để đưa ra kết luận, kiến nghị, làm cơ sở cho Chủ tịch UBND xã ra quyết định giải quyết khiếu nại. Báo cáo kết quả xác minh bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

+ Kết luận cụ thể về từng nội dung đã tiến hành xác minh;

+ Xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của hộ gia đình, cá nhân có hành vi vi phạm (nếu có);

+ Ý kiến khác nhau giữa các thành viên trong tổ xác minh về nội dung báo cáo kết quả xác minh (nếu có);

+ Các biện pháp xử lý theo thẩm quyền đã được áp dụng; kiến nghị các biện pháp xử lý.

Báo cáo kết quả xác minh được gửi cho Chủ tịch UBND cấp xã. 

* Ra quyết định giải quyết khiếu nại và hoàn chỉnh hồ sơ:

Căn cứ vào báo cáo kết quả xác minh, Chủ tịch UBND xã phải ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại (quyết định này được gửi cho người khiếu nại; người có quyền và lợi ích liên quan. Khi cần thiết, có thể công bố công khai quyết định giải quyết khiếu nại đối với người khiếu nại và người bị khiếu nại).

* Về vấn đề hoàn chỉnh hồ sơ giải quyết khiếu nại: Trong hoạt động  giải quyết khiếu nại, giải quyết tố cáo, hồ sơ xác minh, hồ sơ giải quyết khiếu nại, tố cáo có ý nghĩa rất quan trọng. Đó là những căn cứ, chứng cứ để đưa ra kết luận xác minh, quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo đồng thời đó cũng là sự thể hiện kết quả của quá trình xác minh, giải quyết khiếu nại, giải quyết tố cáo. Chính vì vậy, ngày 24/10/2007, Tổng Thanh tra đã có Quyết định số 2278/2007/QĐ-TTCP ban hành Quy chế lập, quản lý hồ sơ thanh tra, hồ sơ giải quyết khiếu nại, hồ sơ giải quyết tố cáo. Cụ thể, hồ sơ giải quyết khiếu nại phải gồm những loại tài liệu sau:

+ Đơn khiếu nại hoặc bản ghi lời khiếu nại;

+ Văn bản trả lời của người bị khiếu nại;

+ Biên bản thẩm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định (nếu có);

+ Báo cáo kết quả xác minh;

+ Quyết định giải quyết khiếu nại;

+ Các tài liệu khác có liên quan.

Nếu người khiếu nại tiếp tục khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại cơ quan toà án thì hồ sơ đó phải được chuyển cho cơ quan hoặc toà án có thẩm quyền khi có yêu cầu.

Đó là các bước mà UBND cấp xã cần tiến hành để giải quyết một vụ việc khiếu nại.  

2. Giải quyết tố cáo 

Khác với khiếu nại, các bước giải quyết tố cáo chỉ được Luật khiếu nại, tố cáo quy định mang tính chất nguyên tắc. Tuy nhiên, theo chúng tôi, giải quyết tố cáo cũng bao gồm 3 bước giống như các bước giải quyết khiếu nại (chuẩn bị giải quyết; thẩm tra, xác minh; ra báo cáo cáo xác minh, kết luận, kiến nghị việc xử lý và hoàn chỉnh hồ sơ). Chỉ có một số điểm cần lưu ý như  sau:

* Giai đoạn chuẩn bị giải quyết tố cáo, khi tiếp nhận đơn tố cáo, UBND cấp xã phải tiến hành phân loại và xử lý như sau:

- Nếu đơn tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải làm thủ tục chuyển đơn đến đúng người có thẩm quyền giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người tố cáo biết khi họ có yêu cầu.

- Nếu đơn tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải thụ lý để giải quyết .

- Nếu đơn tố cáo là đơn nặc danh, mạo danh, đơn tố cáo đã được cấp có thẩm quyền xem xét, kết luận nay tố cáo lại nhưng không có thêm tài liệu mới thì  sẽ không xem xét, giải quyết. Những đơn này và xếp vào diện những đơn tố cáo không đủ điều kiện để thụ lý.

Trong trường hợp cấp thiết, UBND cấp xã tiếp nhận tố cáo phải báo ngay cho cơ quan có trách nhiệm để áp dụng biện pháp ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật; áp dụng biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn cho người tố cáo khi họ yêu cầu.

*  Với đơn tố cáo đủ điều kiện để thụ lý thì UBND cấp xã cần phải ra Quyết định thụ lý giải quyết, trong đó cần nêu rõ:

-  Họ tên, chức vụ của cán bộ được giao nhiệm vụ xác minh;

- Những nội dung cần xác minh;

- Thời gian tiến hành;

- Quyền hạn và trách nhiệm của người được giao nhiệm vụ xác minh. 

Mục đích xác minh đơn tố cáo phải làm rõ nội dung tố cáo về hộ gia đình, cá nhân đã gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; Xâm phạm quyền, lợi ích của Nhà nước, cộng đồng dân cư, tổ chức, gia đình và cá nhân (vì UBND xã có thẩm quyền kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với hộ gia đình, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường).

Người được giao nhiệm vụ xác minh phải có kiến thức pháp luật về bảo vệ môi trường và phải vận dụng triệt để các kỹ thuật chất vấn nhằm xác minh, khai thác thông tin, tài liệu của người tố cáo, người bị tố cáo và người có liên quan (sau đây gọi chung là đối tượng xác minh). Cụ thể: Trong công tác xác minh, thu thập chứng cứ để giải quyết tố cáo, phương pháp cảm hoá, giáo dục, sử dụng tài liệu, chứng cứ, sử dụng mâu thuẫn tác động tâm lý tới đối tượng xác minh (viết tắt là ĐTXM) làm chuyển đổi thái độ khai báo của họ là những phương pháp cơ bản nhất .

Để lấy lời khai đầy đủ, chính xác và khách quan từ ĐTXM, Cán bộ xác minh cần áp dụng một số kỹ thuật sau đây khi tiến hành lấy lời khai của họ.

          a. Sử dụng những mâu thuẫn trong lời khai của ĐTXM để đấu tranh với thái độ khai báo không trung thực của ĐTXM.

Đây là kỹ thuật mà Cán bộ xác minh chủ động chỉ ra những mâu thuẫn xuất hiện trong lời khai của ĐTXM nhằm đấu tranh với thái độ không trung thực  hoặc không khách quan, thiếu thiện chí của họ.

Để thực hiện kỹ thuật đạt hiệu quả Cán bộ xác minh phải hỏi thật sâu, thật kỹ vào từng tình tiết, thời gian cụ thể của sự việc để họ trình bày. Có thể hỏi nhiều lần về cùng một vấn đề và trong những khoảng thời gian khác nhau để phát hiện mâu thuẫn. Nếu xét thấy cần thiết Cán bộ xác minh yêu cầu ĐTXM ký xác nhận dưới mỗi câu trả lời, để khi phát hiện mâu thuẫn và đấu tranh với thái độ khai báo không đúng thì họ không thể chối cãi được.

Việc chỉ ra cho ĐTXM những mâu thuẫn phát hiện được trong lời khai của họ thường gây cho họ một tác động mạnh về tâm lý, buộc ĐTXM phải có sự đấu tranh trong tư tưởng và thấy rằng khó có thể che giấu được cán bộ xác minh. Từ đó, ý định khai báo thật xuất hiện trong tư tưởng của ĐTXM.

Trong những trường hợp đó, đầu tiên Cán bộ xác minh nên đưa ra những câu hỏi về mâu thuẫn ít đụng chạm đến quyền lợi của ĐTXM. Sau đó mới dần dần chuyển sang giải  quyết những mâu thuẫn nghiêm trọng hơn, có ý nghĩa xác định rõ sự thật của vấn đề cần làm rõ, kết hợp với cách giải thích, thuyết phục và động viên ĐTXM trình bày lại.

b. Sử dụng chứng cứ để vạch rõ mâu thuẫn buộc ĐTXM phải khai báo đúng sự thật

Khi thấy lời khai của ĐTXM mâu thuẫn với chứng cứ, Cán bộ xác minh nên đặt câu hỏi về vấn đề đó để ĐTXM trả lời củng cố một lần nữa nội dung lời khai của họ. Nếu ĐTXM vẫn khẳng định nội dung lời khai đó là đúng thì Cán bộ xác minh đưa ra những chứng cứ cần thiết và yêu cầu họ giải thích sự mâu thuẫn đó.

Việc sử dụng chứng cứ để vạch rõ mâu thuẫn cũng gây một tác động tâm lý tương đối  mạnh để ngăn chặn người làm  chứng khai dối. Vì vậy, khi sử dụng chứng cứ để đấu tranh cần chú ý đến việc đặt câu hỏi, sao cho các câu hỏi đặt ra trong một trình tự logic mà mang tính “trói buộc” được ĐTXM, đưa ĐTXM đến câu trả lời cuối cùng.

Cán bộ xác minh cần kết hợp chặt chẽ giữa thuyết phục, giáo dục tư tưởng với việc vạch rõ sai trái của ĐTXM, làm cho họ không thể giấu giếm được, mà phải tôn trọng sự thật. Trường hợp cần thiết, có thể đưa họ ra đối chất với những ĐTXM khác hoặc đối chất với ĐTXM.

c. Tác động tâm lý trực tiếp đối với ĐTXM nhằm giúp họ nhớ lại những sự việc, hiện tượng đã cảm giác, tri giác được bị lãng quên và khắc phục những thiếu sót chủ quan khi trình bày

Trong thực tiễn  khi ĐTXM khai không đúng sự thật thì ngoài trường hợp cố ý, chúng ta còn thấy có ĐTXM do trí nhớ của họ kém, do sự việc xảy ta quá lâu ngày hoặc họ biết việc đó không đến nơi đến chốn hoặc khả năng trình bày một vấn đề nào đó bị hạn chế mà ảnh hưởng đến độ chính xác của ĐTXM. Vì vậy, để việc lấy lời khai của ĐTXM trong trường hợp này đạt kết quả, Cán bộ xác minh cần áp dụng kỹ thuật tác động tâm lý trực tiếp đối với ĐTXM nhằm giúp họ nhớ lại những sự việc, hiện tượng đã cảm giác, tri giác được bị lãng quên hoặc khắc phục những thiếu sót chủ quan khi trình bày.

Trước hết Cán bộ xác minh phải bình tĩnh, không vội vàng yêu cầu ĐTXM trình bày ngay vào sự việc, cần hướng dẫn ĐTXM bình tĩnh, suy nghĩ và hồi tưởng lại những vấn đề đã xảy ra trước sự kiện cần xác minh về mặt thời gian. Có khi để nhớ lại được khi sự kiện nào sẩy ra vào buổi chiều hoặc buổi trưa thì ĐTXM lại phải suy nghĩ và nhớ lại những sự kiện sẩy ra vào buổi sáng. Nếu ĐTXM quên những chi tiết quan trọng, chủ chốt của một sự kiện, một hoàn cảnh nào đó, Cán bộ xác minh nên động viên ĐTXM trình bày thật nhiều vấn đề, chi tiết có liên quan đến sự kiện mà ĐTXM quên. Cán bộ xác minh có thể nêu một chi tiết nào đó đã được xác định là có liên quan đến sự kiện cần nhớ lại vào trong câu hỏi để ĐTXM trả lời, hoặc đưa ra những vật chứng, ảnh nơi sẩy ra sự kiện (nếu có) mà ĐTXM đã cảm giác, tri giác. Nếu xét thấy cần thiết  có thể đưa ĐTXM đến địa điểm sẩy ra sự kiện. Chính quang cảnh, cấu trúc địa điểm đó có thể giúp cho ĐTXM khôi phục lại trong trí nhớ trình tự diễn biến của sự kiện và các chi tiết của nó đã sẩy ra mà họ đã cảm giác, tri giác được.

Nếu vấn đề mà ĐTXM quên là tên một cơ quan, một cá nhân hoặc một địa danh nào đó... thì cần đưa cho ĐTXM một danh sách liệt kê những vấn đề đó để họ dựa vào mà nhớ lại cái đã bị lãng quên.

Trường hợp ĐTXM khó khăn trong việc trình bày suy nghĩ, nhận thức của mình và khó khăn trong việc kể lại sự kiện cần làm rõ thì Cán bộ xác minh cần nêu những câu hỏi cụ thể, ngắn gọn và rõ ràng hơn; kiên nhẫn lắng nghe những câu trả lời, hướng lời khai của họ vào trạng thái tâm lý bình tĩnh.

Khi áp dụng kỹ thuật này Cán bộ xác minh cần chú ý luôn luôn đưa ĐTXM vào trạng thái tâm lý bình tĩnh, thoải mái.

Những vấn đề cần chú ý khi giải quyết một số trường hợp cụ thể:

+ Đối với trường hợp ĐTXM cố tình không khai đúng sự thật.

Nói chung, ĐTXM cố tình khai không đúng sự thật Cán bộ xác minh không vội tỏ phản ứng ngay mà phải thận trọng tìm rõ nguyên nhân.

Việc phát hiện và khắc phục những nguyên nhân thúc đẩy ĐTXM khai không đúng sự thật là vấn đề rất quan trọng. Nguyên nhân khai không đúng sự thật ở ĐTXM có thể là do sợ trả thù, có ác cảm với ĐTXM hoặc ngược lại do muốn giữ quan hệ tốt với những người đó; do lợi ích cá nhân khác; do ĐTXM muốn che giấu có liên quan đến hành vi sai phạm hoặc che giấu hành vi vi phạm đạo đức xã hội nào đó của chính bản thân mình. Cũng có trường hợp ĐTXM sợ trách nhiệm hoặc tư tưởng, quan điểm trái với tư tưởng quan điểm của Đảng, Pháp luật của Nhà nước... mà dẫn đến việc khai không đúng sự thật.

Ứng với nguyên nhân khai đối với tuỳ từng trường hợp cụ thể, Cán bộ xác minh có thể đề ra những biện pháp khắc phục tương ứng. Chẳng hạn Cán bộ xác minh giải thích ý nghĩa của lời khai thật của ĐTXM đối với việc xác minh làm rõ vụ việc hoặc chỉ cho ĐTXM rõ việc né tránh khai thật sẽ có thể dẫn đến chỗ kẻ sai phạm vẫn không bị phát hiện, có điều kiện tiếp tục thực hiện các hành vi sai phạm. Như vậy ĐTXM có thể phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo của mình.

 Nếu ĐTXM vẫn cố tình khai báo không đúng sự thật, làm cản trở quá trình xác minh, Cán bộ xác minh có thể áp dụng kỹ thuật sử dụng những mâu thuẫn trong lời khai của ĐTXM hoặc sử dụng chứng cứ để vạch rõ mâu thuẫn buộc ĐTXM phải khai báo đúng sự thật.

Phần đông ĐTXM không nói đúng sự thật thường là loại ĐTXM có liên quan  hay có quan hệ xã hội, quan hệ gia đình, thân thuộc với ĐTXM hoặc họ là những ĐTXM của vụ việc khác. Vì vậy Cán bộ xác minh cần phải vận dụng kỹ thuật lấy lời khai một cách linh hoạt, sáng tạo mới có thể lấy lời khai thật, đầy đủ, chính xác và khách quan ở ĐTXM đó.

+ Đối với những ĐTXM có quan hệ thân thuộc đối với ĐTXM.

Việc ĐTXM có quan hệ thân thuộc hoặc phụ thuộc với ĐTXM có ảnh hưởng đến sự khai báo của ĐTXM theo hai chiều ngược nhau. Cán bộ xác minh cần chú ý loại trừ yếu tố tiêu cực của mối quan hệ thân thuộc, phụ thuộc của ĐTXM với ĐTXM.

Thông thường những ĐTXM là bạn bè, người thân của ĐTXM có thể che giấu hoặc khai bớt xén, không đầy đủ hoặc làm giảm hành vi sai phạm cho ĐTXM...

Đối với ĐTXM loại này Cán bộ xác minh cần nhanh chóng tổ chức lấy lời khai của họ để ngăn chặn sự ảnh hưởng của mối quan hệ thân thuộc hoặc phụ thuộc đó đến lời khai của ĐTXM. Mặt khác, cũng cần nghiên cứu, tính toán đến việc lợi dụng mối quan hệ thân hoặc phụ thuộc đó để tác động, thúc đẩy ĐTXM khai báo đúng sự thật

+ Đối với những ĐTXM có những khuyết tật về thể chất hoặc tinh thần.

 Những khuyết tật về thể chất hoặc tinh thần của ĐTXM có thể làm ảnh hưởng xấu đến khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn về những tình tiết vụ việc. Đối với những khuyết tật về thể chất của ĐTXM, Cán bộ xác minh cần xem xét mức độ ảnh hưởng của những khuyết tật đối với lời khai của họ. Trong những trường hợp đó, trước hết phải kiểm tra các cơ quan thụ cảm như tai mắt... của ĐTXM, có thể mời cán bộ y tế giúp đỡ kiểm tra. Trong trường hợp khuyết tật về thể chất không ảnh hưởng đến nhận thức của ĐTXM mà chỉ làm hạn chế khả năng trình bày, Cán bộ xác minh phải tạo mọi điều kiện giúp đỡ họ khắc phục để họ có thể trình bày đầy đủ nhận thức về các tình tiết của vụ việc mà họ đã ghi nhớ được. Ví dụ: ĐTXM bị câm, ngọng thì có thể sử dụng phiên dịch hoặc cho viết tự khai.

Đối với loại ĐTXM này, Cán bộ xác minh phải hết sức kiên trì, tránh nôn nóng mà phải khắc phục mặc cảm về khuyết tật của họ.

d. Kiểm tra và sử dụng lời khai ĐTXM

d.1 Kiểm tra lời khai ĐTXM

Kiểm tra lời khai của ĐTXM nhằm mục đích đánh giá xem những vấn đề mà họ cung cấp có đúng sự thật hay không để sử dụng vào việc đấu tranh với ĐTXM, xác định càng chính xác bao nhiêu thì giá trị chứng cứ càng vững chắc bấy nhiêu.

ĐTXM khai báo đến đâu, ta phải kiểm tra ngay những vấn đề cần thiết đó. Tránh tình trạng lấy khai của ĐTXM liên miên đến cuối cùng mới kiểm tra, xác minh. Sau mỗi lần kiểm tra tài liệu họ cung cấp, ta lại có kế hoạch và biện pháp lấy lời khai thêm.

Ngoài việc kiểm tra nội dung, còn phải kiểm tra cả về phương pháp lấy lời khai nữa. Vì nếu phương pháp lấy lời khai không khoa học, không khách quan thì lời khai của ĐTXM cũng sẽ không chính xác, không đầy đủ.

Ba biện pháp để kiểm tra lời khai của ĐTXM là:

? Đối chiếu lời khai trước với lời khai sau, lời khai của ĐTXM này với lời khai của ĐTXM khác;

Đối chiếu lời khai của ĐTXM với các tài liệu, chứng cứ đã có trong hồ sơ xác minh và với tình hình thực tế của vụ việc đã sẩy ra mà ta đã biết qua các nguồn khác (vật chứng, giám định chuyên môn...);

? Dùng các biện pháp nhận dạng, giám định, đối chất... để xác minh lời khai của ĐTXM khi cần thiết và có đủ điều kiện. Ngoài ra ta có thể áp dụng phương pháp kiểm tra lời khai tại chỗ bằng cách đối chiếu với thực trạng môi trường, hậu quả tác hại của hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường... để kiểm tra lời khai của ĐTXM.

Các biện pháp trên đây bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà kiểm tra bằng biện pháp này hay biện pháp khác. Không phải lúc nào cũng sử dụng tất cả các biện pháp để kiểm tra. Cán bộ xác minh phải lấy sự kiện thực tế làm cơ sở để xác định đúng, sai, tránh vội tin ngay vào lời khai của ĐTXM hay kiểm tra một cách qua loa, đại khái.

d.2. Sử dụng lời khai ĐTXM

Ngoài ý nghĩa về mặt pháp lý, lời khai ĐTXM còn có thể là tài liệu nghiệp vụ dùng để đấu tranh với các ĐTXM.

Vì vậy, khi sử dụng lời khai ĐTXM cần phải tính toán, cân nhắc kỹ càng. Có hai trường hợp có thể xảy ra:

Trường hợp 1:  Nếu lời khai ĐTXM không có đủ cơ sở để  kết luận là chính xác thì chỉ được xem là một loại tài liệu khảo cứu thêm không  được sử dụng làm  chứng cứ;

Trường hợp 2:  Nếu lời khai ĐTXM được kết luận là chính xác, có giá trị chứng cứ thì sử dụng như các chứng cứ khác. Song cần tính đến đặc điểm của loại chứng cứ này,  nó được coi như một chứng cứ sống.

          Như vậy, chỉ được sử dụng lời khai ĐTXM sau khi đã được kiểm tra kết luận là chính xác. Khi sử dụng lời khai của ĐTXM, Cán bộ xác minh cần trao đổi, bàn bạc và tính toán đến việc bảo vệ ĐTXM đó, đề phòng bị trả thù, trù dập...

Trên đây là một trong những biện pháp nghiệp vụ cơ bản trong công tác xác minh, giúp các Cán bộ xác minh trong quá trình xác minh, thu thập, đánh giá, phân tích chứng cứ để kết luận đúng sai về nội dung cần xác minh.

          Các phương pháp cảm hoá, giáo dục, sử dụng tài liệu, chứng cứ, sử dụng mâu thuẫn có mối liên hệ mật thiết với nhau.

          Muốn giải quyết những động cơ kìm hãm, kích thích ĐTXM khai báo thành khẩn, Cán bộ thụ lý phải nghiên cứu nắm vững đặc điểm của ĐTXM, nắm vững những tài liệu, chứng cứ đã có về vụ việc, trên cơ sở đó mà tiến hành cảm hoá giáo dục kết hợp với sử dụng tài liệu, chứng cứ, sử dụng mâu thuẫn, tác động một cách có nghệ thuật, có hệ thống vào tâm lý ĐTXM. Không nắm vững mối liên hệ chặt chẽ giữa các phương pháp, sử dụng chúng một cách chia cắt sẽ không phát huy được hiệu quả  của từng phương pháp. 

          Sau khi đã thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ chứng minh đúng sai về nội dung tố cáo, cán bộ xác minh phải xác định rõ hành vi vi phạm, lập biên bản vi phạm hành chính để có đủ căn cứ trình Chủ tịch UBND xã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 81/2006/NĐ-CP của Chính phủ Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Mẫu Biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực bảo vệ môi trường như sau:

Mẫu số 1

          e. Kết thúc giải quyết tố cáo và lập hồ sơ giải quyết tố cáo

Trong trường hợp nội dung tố cáo đơn giản, rõ ràng, Chủ tịch UBND xã chỉ cần cử cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường tiến hành kiểm tra tại chỗ, lập Biên bản vi phạm hành chính theo mẫu nêu trên và dự thảo quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo mẫu dưới đây để trình Chủ tịch UBND xã ký quyết định xử phạt.

Mấu số 2

Trong trường hợp nội dung tố cáo phức tạp, không xác định được hành vi vi phạm  thì phải thực hiện quá trình xác minh như đã trình bày ở trên và Cán bộ xác minh phải lập báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh, kiến nghị xử lý tố cáo và phải dự thảo kết luận về nội dung tố cáo, dự thảo quyết định xử lý tố cáo (nếu nội dung tố cáo là đúng và cần phải xử lý) hoặc có văn bản kiến nghị đến cấp có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật để trình Chủ tịch UBND xã ký ban hành.

Cán bộ xác minh phải tổng hợp các tài liệu và sắp xếp hồ sơ giải quyết tố cáo gồm các tài liệu sau:

1. Đơn tố cáo hoặc bản ghi lời tố cáo;

2. Văn bản giao việc của cấp trên có thẩm quyền (nếu có);

3. Quyết định thụ lý giải quyết hoặc quyết định thành lập tổ công tác, văn bản cử cán bộ thụ lý giải quyết tố cáo;

4. Kế hoạch thẩm tra, xác minh tố cáo;

5. Biên bản thẩm tra, xác minh của của người được giao thẩm tra xác minh lập trong quá trình thụ lý giải quyết tố cáo;

6. Văn bản về trưng cầu, giám định và kết quả giám định (nếu có);

7. Văn bản, tài liệu, hiện vật thu thập được trong quá trình thụ lý giải quyết tố cáo;

8. Văn bản giải trình của người bị tố cáo (nếu có);

9. Báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh nội dung tố cáo;

10. Kết luận về nội dung tố cáo;

11. Quyết định xử lý tố cáo;

12. Các tài liệu khác có liên quan đến nội dung tố cáo được thu thập trong quá trình thụ lý, giải quyết tố cáo.          

Công tác xác minh giải quyết khiếu nại là rất khó nhưng giải quyết tố cáo lại càng khó khăn, căng thẳng và phức tạp hơn nhiều. Chính vì vậy, chúng tôi đã mạnh dạn đưa ra một số thủ pháp nghề nghiệp để các cán bộ được giao tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo cùng tham khảo, vận dụng trong việc xác minh, chất vấn, đối thoại, đối chất với ĐTXM nhằm tìm ra chứng cứ sai phạm cũng như chứng cứ ngoại phạm của người bị tố cáo.

Cuối cùng, rất mong tiếp nhận những ý kiến phản hồi, trao đổi của đồng chí, đồng nghiệp để cùng nhau xây dựng nghiệp vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo ngày càng hoàn thiện hơn. Mọi chia sẻ thông tin, kiến thức hoặc hỏi đáp, thắc mắc về nghiệp vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo xin liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ của tác giả: Hoàng Quốc Hùng – Phó Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp, Tel: 8231127 & 0913001513 & Email: Hunghq@moj.gov.vn./.

Gửi góp ý cho Nghiệp vụ

Tiêu đề (*)  
Người gửi (*)  
Email  
Điện thoại
Nội dung (*)  
Mã xác nhận