Những khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai thực hiện Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành; kiến nghị một số giải pháp khắc phục

Luật THADS năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành được ban hành, đã góp phần hoàn thiện một bước thể chế trong công tác THADS, tạo cơ sở pháp lý hữu hiệu cho các cơ quan THADS và chấp hành viên thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ. Tuy nhiên, qua hơn 02 năm triển khai thực hiện, các cơ quan THADS vẫn còn gặp một số khó khăn, vướng mắc cụ thể như:

1. Khó khăn, vướng mắc về mặt thể chế:

* Khó khăn, vướng mắc về việc xử lý đơn yêu cầu thi hành án không đảm bảo đúng quy định tại Điều 31 Luật THADS và Điều 4 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS về thủ tục THADS:

- Theo quy định tại khoản 1, Điều 31 Luật THADS thì: Đơn yêu cầu thi hành án có các nội dung chính sau đây: Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu; Tên cơ quan THADS nơi yêu cầu; Họ, tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án; Nội dung yêu cầu thi hành án; Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án”.

Đồng thời, theo quy định tại khoản 2, Điều 4 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP của Chính phủ thì: Đơn yêu cầu thi hành án phải có đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 31 Luật THADS. Trường hợp đơn yêu cầu thi hành án không có đầy đủ các nội dung theo quy định hoặc không nêu rõ thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án nhưng không yêu cầu xác minh thì cơ quan THADS thông báo để đương sự bổ sung nội dung đơn yêu cầu thi hành án trước khi ra quyết định thi hành án.

- Để xử lý đơn yêu cầu thi hành án, pháp luật về THADS đã quy định: Khi nhận đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan THADS phải kiểm tra nội dung đơn và các tài liệu kèm theo, vào sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án và cấp giấy biên nhận cho người nộp đơn (Khoản 1, Điều 33 Luật THADS); Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, nếu có căn cứ từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan THADS phải gửi văn bản thông báo cho đương sự biết về việc từ chối nhận đơn và nêu rõ lý do (khoản 3, Điều 4, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP của Chính phủ); Thời hạn ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu là  năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án (khoản 2, Điều 36 Luật THADS).

Tuy nhiên, trong thực tế có rất nhiều trường hợp, đơn yêu cầu thi hành án không đảm bảo đúng quy định tại Điều 31 Luật THADS (chủ yếu là không có Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án). Vì vậy, cơ quan THADS thông báo cho người được thi hành án bổ sung nội dung đơn yêu cầu thi hành án, nhưng người được thi hành án không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng vẫn không đảm bảo đúng quy định tại Điều 31 Luật THADS. Để xử lý đơn yêu cầu thi hành án trong trường hợp này, thì pháp luật về THADS chỉ quy định cho cơ quan THADS được thực hiện một trong hai phương án, như:

Một là, cơ quan THADS thụ lý và ra Quyết định thi hành án theo quy định tại khoản 2, Điều 36 Luật THADS: Việc thực hiện quy định này là không có cơ sở pháp lý, vì đơn yêu cầu thi hành án không đảm bảo đúng quy định tại Điều 31 Luật THADS, nên không thể thụ lý và ra Quyết định thi hành án;

Hai là, cơ quan THADS phải gửi văn bản thông báo cho đương sự biết về việc từ chối nhận đơn và nêu rõ lý do theo quy định tại khoản 3, Điều 4, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP của Chính phủ: Việc thực hiện quy định này cũng không có cơ sở, vì tại Điều 34 Luật THADS quy định về từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án, không quy định cơ quan THADS từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án trong trường hợp đơn yêu cầu thi hành án không có các nội dung theo đúng quy định tại Điều 31 Luật THADS.

Như vậy, đối với trường hợp này, cơ quan THADS không thể thụ lý, ra Quyết định thi hành án và cũng không thể thông báo từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án.

* Khó khăn, vướng mắc trong xác minh điều kiện thi hành án; trong thủ tục yêu cầu chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án; trong việc thu, nộp, quản lý và sử dụng chi phí xác minh điều kiện thi hành án khi người được thi hành án yêu cầu chấp hành viên cơ quan Thi hành án xác minh điều kiện thi hành án:

Theo quy định tại Điều 44 Luật THADS; Điều 6 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ và điểm a, khoản 2, Điều 73 Luật THADS thì: Đối với những vụ việc thi hành theo đơn yêu cầu thi hành án (không đồng thời với việc thi hành theo Quyết định thi hành án chủ động), việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, do người được thi hành án thực hiện; trường hợp người được thi hành án đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì có thể yêu cầu Chấp hành viên tiến hành xác minh. Việc yêu cầu này phải được lập thành văn bản và phải ghi rõ các biện pháp đã được áp dụng nhưng không có kết quả, kèm theo tài liệu chứng minh; người được thi hành án phải chịu chi phí xác minh điều kiện thi hành án khi yêu cầu chấp hành viên cơ quan THADS xác minh điều kiện thi hành án.

Tuy nhiên, trong thực tế những quy định này đã thể hiện nhiều vướng mắc trong việc tổ chức thực hiện, cụ thể như:

- Vướng mắc trong việc thực hiện quy định người được thi hành án phải xác minh điều kiện thi hành án: Theo quy định tại khoản 1, Điều 6, Nghị định số 74/2009/NĐ-CP của Chính phủ thì:“Người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin khi người được thi hành án hoặc người đại diện theo ủy quyền của người được thi hành án ủy quyền có yêu cầu. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đó từ chối cung cấp thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do”. Tuy nhiên, trong thực tế, để người được thi hành án xác minh được điều kiện thi hành án theo quy định tại khoản 1, Điều 6, Nghị định số 74/2009/NĐ-CP của Chính phủ là việc làm không phải dễ, vì phần lớn người được thi hành án (nhất là đối với việc thi hành án về phần nghĩa vụ dân sự trong các bản án hình sự) chủ yếu là những người nông dân, người già yếu, người dân tộc thiểu số, người nghèo, người có trình độ văn hóa thấp, thậm chí không biết chữ... sự hiểu biết pháp luật của họ còn hạn chế, khả năng thực hiện nghĩa vụ xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án rất hạn chế. Trong khi đó, tài sản, nguồn thu nhập của người phải thi hành án là rất khó xác định. Hơn nữa, thực tế thi hành án cho thấy đa số người phải thi hành án họ thường có hành vi tẩu tán tài sản, che dấu nguồn thu nhập, thay đổi chổ ở, tìm mọi cách để chầy ì, trốn tránh nghĩa vụ phải thi hành án... Đồng thời, tài sản, tài khoản, nguồn thu nhập là bí mật thông tin của cá nhân được pháp luật bảo vệ, không thể tùy tiện cung cấp, chỉ được phép cung cấp khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Vì thế cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án thường từ chối cung cấp thông tin cho người được thi hành án, mà không có cơ sở để xử lý, nếu bị xử lý thì cơ quan nào có thẩm quyền xử lý, chế tài xử lý ra sao. Chưa có văn bản nào qui định cụ thể.

Ngoài ra, pháp luật về THADS cũng chưa quy định về trình tự, thủ tục; thành phần tham gia; nội dung, biểu mẫu… biên bản xác minh do người được thi hành án xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

- Vướng mắc trong việc thực hiện quy định người được thi hành án yêu cầu cơ quan THADS xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án: Theo quy định tại Điều 44 Luật THADS và Điều 6 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ thì người được thì hành án có quyền yêu cầu chấp hành viên cơ quan Thi hành án xác minh điều kiện thi hành án của người thi hành án trong trường hợp người được thi hành án chứng minh được đã áp dung mọi biện pháp mà không thể xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Tuy nhiên, do sự thiếu phối hợp của các cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin như: không cung cấp kết quả xác minh mà không có văn bản trả lời và nêu rõ lý do, không ký nhận văn bản yêu cầu cung cấp kết quả xác minh của người được thi hành án… Vì vậy, người được thi hành án không có cơ sở để yêu cầu chấp hành viên cơ quan THADS tiến hành xác minh điều kiện thi hành áncủa người phải thi hành án.

- Vướng mắc trong việc nộp, thu, quản lý, sử dụng chi phí xác minh điều kiện thi hành án đối với trường hợp người được thi hành án yêu cầu cơ quan THADS xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án: Theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 73 Luật THADS thì: Người được thi hành án phải chịu chi phí xác minh điều kiện thi hành án khi yêu cầu chấp hành viên cơ quan THADS xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Tuy nhiên, việc thu, nộp, quản lý và sử dụng chi phí xác minh điều kiện thi hành án hiện nay chưa có văn bản pháp luật quy định về vấn đề này. Vì vậy, gây khó khăn cho người nộp chi phí xác minh (người được thi hành án yêu cầu chấp hành viên cơ quan THADS xác minh điều kiện thi hành án) và cũng gây khó khăn cho cơ quan Thi hành án trong việc thu, quản lý và sử dụng đối với chi phí xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của người được thi hành án.

* Vướng mắc trong việc thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành án  theo quy định tại Điều 59 Luật THADS:

Điều 59 Luật THADS quy định: “Trường hợp theo Bản án, Quyết định mà một bên được nhận tài sản và phải thanh toán cho người khác giá trị tài sản họ được nhận, nhưng tại thời điểm thi hành án, giá trị tài sản thay đổi và một trong các bên đương sự có yêu cầu định giá lại tài sản đó thì tài sản được định giá theo quy định tại Điều 98 Luật THADS”. Theo quy định trên, nếu Chấp hành viên tiến hành định giá lại tài sản và giải quyết việc thi hành án theo giá trị tài sản mới không đúng với nội dung Bản án, Quyết định thi hành án (trừ trường hợp các bên đương sự thỏa thuận được về giá tài sản và giải quyết việc thi hành án theo giá đã thỏa thuận) thì trái với quy định tại Điều 4 Luật THADS về Bảo đảm hiệu lực của Bản án, Quyết định và Khoản 2, Điều 20 Luật THADS về nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên thi hành đúng nội dung Bản án, Quyết định.

* Vướng mắc về điều kiện xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại Điều 61 Luật THADS và Khoản 1 Điều 26 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ

Điều 61 Luật THADS và khoản 1 Điều 26 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định: Người phải thi hành nghĩa vụ đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đã thi hành được ít nhất bằng 1/20 khoản phải thi hành, nhưng giá trị không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch thì được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 Luật THADS.

Như vậy, qua thực tiễn áp dụng thì hiệu quả công tác xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án chưa cao, lượng án tồn đọng vẫn còn nhiều, vì còn vướng về điều kiện xét, miễn giảm nghĩa vụ thi hành án, theo quy định của pháp luật về THADS thì: Đối với các trường hợp mà người phải thi hành các khoản thu nộp ngân sách nhà nước trên 5.000.000 đồng mà chưa thi hành được 1/20 và hoàn toàn không có điều kiện nộp thì những hồ sơ này sẽ không thể miễn, giảm được. Vì vậy, lượng án tồn đọng sẽ tiếp tục tăng tại các cơ quan THADS.

* Vướng mắc do quy định giữa Luật THADS và Bộ Luật tố tụng dân sự chưa đồng bộ về việc khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định quyền sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để đảm bảo thi hành án theo khoản 1, Điều 74 Luật THADS và quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về bán đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 1, Điều 102 Luật THADS:

Khoản 1, Điều 74 Luật THADS quy định: “Trước khi cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác, kể cả quyền sử dụng đất, Chấp hành viên phải thông báo cho chủ sở hữu chung biết việc cưỡng chế. Chủ sở hữu chung có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của họ đối với tài sản chung. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để bảo đảm thi hành án”.

Đồng thời, khoản 1. Điều 102 Luật THADS quy định: “Đương sự, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản”.

Tuy nhiên trên thực tế khi áp dụng những quy định này thì cơ quan THADS, chấp hành viên gặp phải những vướng mắc sau:

+ Đối với việc xác định quyền sở hữu theo quy định tại khoản 1, Điều 74 Luật THADS: Trước khi tiến hành cưỡng chế tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác, Chấp hành viên đã thông báo cho các chủ sở hữu chung khởi kiện ra Toà án, nhưng họ không khởi kiện thì theo quy định của Luật THADS, người được thi hành án hoặc Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để đảm bảo thi hành án theo đúng quy định tại khoản 1, Điều 74 Luật THADS và Tòa án phải có trách nhiệm thụ lý giải quyết theo đúng quy định tại khoản 4, Điều 179 Luật THADS, nhưng Tòa án không thụ lý vì Bộ Luật tố tụng dân sự không qui định Chấp hành viên hoặc người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác để thi hành án và không quy định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc trên. Như vậy, quy định giữa Luật THADS và Bộ Luật tố tụng dân sự có sự chồng chéo, chưa đồng bộ, nên quy định tại khoản 1, Điều 74 và khoản 4, Điều 179 Luật THADS chưa áp dụng được trên thực tế. Do đó, chấp hành viên chưa thể  cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác trong trường hợp chưa xác định được phần sở hữu của người phải thi hành án, nên gây khó khăn và làm ảnh hướng đến hiệu quả công tác THADS.

+ Đối với việc giải quyết tranh chấp trong việc bán đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 1, Điều 102 Luật THADS: Theo quy định tại khoản 1, Điều 102 Luật THADS thì “Đương sự, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản”. Tuy nhiên qua thực tế áp dụng, thì quy định này vẫn chưa đi vào thực tiễn, vì Bộ luật Tố tụng dân sự chưa quy định thẩm quyền khởi kiện của chấp hành viên và thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án đối với yêu cầu của chấp hành viên giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản.

* Vướng mắc từ việc kê biên quyền sử dụng đất  theo quy định tại Điều 110 Luật THADS:

Khoản 1, Điều 110 Luật THADS quy định: “Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai”.

Tuy nhiên, việc kê biên, xử lý tài sản là quyền sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản hay đất làm muối trong trường hợp quyền sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản hay đất làm muối mà người phải thi hành án là người trực tiếp lao động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản hay làm muối  và nguồn sống chủ yếu của họ là thu nhập có được từ hoạt động sản xuất đó và họ không còn bất kỳ tài sản hoặc thu nhập nào khác (trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên quyền sử dụng đất đó để thi hành án). Việc thi hành án bị vướng mắc bởi những lý do sau:

 - Việc tiến hành kê biên, xử lý quyền sử dụng đất đó để thi hành án sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người phải thi hành án, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, xã hội; nên chính quyền địa phương không đồng tình ủng hộ mà đề nghị cơ quan THADS xem xét để lại cho người phải thi hành án một diện tích đất đủ cho họ sản xuất, sinh sống vì địa phương không có quỹ đất nào khác để cấp thêm cho họ.

Trước đây, tại Điều 4 Nghị định 164/2004/NĐ-CP ngày 14/9/2004 của Chính phủ về kê biên, đấu giá quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành án qui định trường hợp người phải thi hành án là người trực tiếp lao động nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối mà nguồn sống chủ yếu của họ là thu nhập có được từ hoạt động sản xuất đó và được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất được kê biên xác nhận thì khi kê biên, Chấp hành viên phải để lại cho người phải thi hành án diện tích đất nhất định đủ đảm bảo cho họ sản xuất để có lương thực sinh sống trong 6 tháng đối với người sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất làm muối; trong 12 tháng đối với người sử dụng đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất nuôi trồng thủy sản hoặc đất nông nghiệp khác. Tuy nhiên, sau khi Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành ra đời thì Nghị định này không còn hiệu lực, trong khi Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành mới được ban hành không quy định về nội dung này, do đó Chấp hành viên không thể để lại một diện tích đất cần thiết cho người phải thi hành án.

Vì vậy, việc kê biên xử lý tài sản của người phải thi hành án trong trường hợp như đã nêu trên là rất khó khăn cho dù có cưỡng chế thành công, việc thi hành án được giải quyết xong thì phần nào cũng ảnh hưởng công tác phối hợp của các cơ quan, tổ chức liên quan, chính quyền địa phương trong công tác THADS trên địa bàn và ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động THADS.

* Vướng mắc trong trường hợp cưỡng chế kê biên nhà ở theo quy định tại Điều 95 Luật THADS và cưỡng chế buộc giao cho người mua được tài sản bán đấu giá theo qui định tại Điều 115 Luật THADS:

Theo quy định tại khoản 1, Điều 95 Luật THADS thì: Việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án. Đồng thời theo quy định tại khoản 5, Điều 115 Luật THADS thì: Trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, Chấp hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm. Nghĩa vụ thi hành án còn lại được tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật này.

Thực hiện những quy định trên, sau khi chấp hành viên cơ quan THADS xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án (hoặc người được thi hành án cung cấp kết quả xác minh) đã xác định: người phải thi hành án chỉ có 01 ngôi nhà là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình; Ngoài ra, người phải thi hành án không có tài sản nào khác. Vì vậy, theo quy định của Luật, chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý ngôi nhà để thi hành án. Sau khi bán đấu giá thành, xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới, trước khi thanh toán các nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án, chấp hành viên Cơ quan thi hành án mời đại diện chính quyền địa phương, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và các cơ quan liên quan họp bàn để xem xét trích lại cho người phải thi hành án một khoản tiền từ tiền bán tài sản đủ để họ thuê nhà ở với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm như quy định tại khoản 5, Điều 115 Luật THADS.

Tuy nhiên, trong thực tế, việc trích lại số tiền này có vướng mắc từ khoản tiền bán tài sản trích lại riêng cho người phải thi hành án hay cho cả gia đình của người phải thi hành án cùng sinh sống chung nhà với người phải thi hành án đủ thuê nhà trong thời hạn 01 năm. Nếu chỉ trích từ tiền bán tài sản riêng cho người phải thi hành án thì những người trong gia đình không có nơi ở, vì họ không có nguồn thu nhập, tài sản để tạo lập nơi ở mới hoặc thuê nhà để ở. Còn với giá thuê nhà bình quân cho người phải thi hành ở như hướng dẫn của điều luật thì chỉ thuê được nhà diện tích nhỏ không đảm bảo cho cuộc sống, sinh hoạt của cả gia đình họ trong điều kiện tối thiểu.

Đây là thực trạng gây khó khăn cho cơ quan thi hành án, là gánh nặng của chính quyền địa phương và bức xúc của đương sự và những người có liên quan. Do vậy, việc cưỡng chế giao nhà khó thực hiện được, vì chính quyền địa phương không đồng tình ủng hộ.

* Vướng mắc trong việc kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án theo qui định tại khoản 1, Điều 6, Thông tư số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục THADS và phối hợp liên ngành trong THADS:

Theo qui định tại khoản 1, Điều 6, Thông tư số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục THADS và phối hợp liên ngành trong THADS thì: Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm mà người phải thi hành án bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thực hiện việc khởi kiện tại Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thi hành án.

Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng quy định này còn nhiều vướng mắc, cụ thể như:

Ngay sau khi có Bản án sơ thẩm, người phải thi hành án đã chuyển nhượng tài sản của mình là nhà, đất cho người khác. Việc chuyển nhượng này được thực hiện bằng hợp đồng chuyển nhượng có công chứng đúng qui định và đã kê khai đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (theo quy định tại Điều 168, Điều 170 của Bộ luật dân sự: quyền sở hữu tài sản đối với bất động sản đã chuyển nhượng cho bên nhận chuyển nhượng kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu. Như vậy, đối với trường hợp này thì tài sản của người phải thi hành án đã chuyển nhượng, nên không còn là tài sản của người phải thi hành án mà là tài sản của người nhận chuyển nhượng (giấy tờ đứng tên sở hữu, sử dụng là của người đã nhận chuyển nhượng). Nhưng theo quy định của pháp luật thì tài sản đó vẫn bị kê biên để thi hành án. Vì vậy, chấp hành viên kê biên tài sản trên để thi hành án.

Sau khi kê biên, Chấp hành viên thông báo cho người phải thi hành án và người đã nhận chuyển nhượng tài sản khởi kiện tại Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình nhưng họ không khởi kiện. Theo qui định chung, Chấp hành viên xử lý tài sản. Sau khi tài sản bán đấu giá thành, Cơ quan thi hành án có trách nhiệm cung cấp đầy đủ các văn bản, giấy tờ liên quan cho người mua được tài sản bán đấu giá theo qui định tại khoản 3, Điều 106 Luật THADS. Nhưng việc lập thủ tục chuyển quyền sở hữu cho người trúng đấu giá không thực hiện được vì giao dịch giữa người phải thi hành án và người mua trước đó vẫn còn hiệu lực.

Như vậy, pháp luật về THADS chỉ qui định từ thời điểm có bản án sơ thẩm mà người phải thi hành án chuyển nhượng tài sản cho người khác thì tài sản đó vẫn bị kê biên đảm bảo thi hành án và quy định quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp đối với người có tranh chấp tài sản kê biên, nhưng không qui định cơ quan thi hành án, Chấp hành viên có quyền hủy bỏ hoặc yêu cầu Tòa án hủy bỏ giao dịch đã có hiệu lực giữa người phải thi hành án và người khác được thực hiện sau khi có bản án sơ thẩm. Vì vậy, gây khó khăn cho việc xử lý tài sản của người phải thi hành án đã chuyển nhượng cho người khác sau khi có bản án sơ thẩm.

* Vướng mắc về mức tiền phạt và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính được quy định tại Điều 163 Luật THADS; Điều 7 và Điều 47 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp:

Theo Điều 7, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ quy định về hành vi vi phạm quy định về hoạt động THADS và Điều 47, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ quy định về thẩm quyền xử phạt hành chính của cơ quan THADS thì: mức tiền xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong THADS tối thiểu là 50.000 đồng và mức tối đa là 5.000.000 đồng. Tuy nhiên về thẩm quyền xử phạt lại quy định: Chấp hành viên được xử phạt tối đa 200.000 đồng; Thủ trưởng cơ quan THADS cấp huyện được xử phạt tối đa là 500.000 đồng và Thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh được xử phạt tối đa là 1.000.000 đồng. Vậy, đối với các hành vi quy định mức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.0000 đồng theo quy định tại khoản 3, Điều 7, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP của chính phủ thì chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan THADS cấp huyện và Thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh không thể xử phạt được, trong khi Điều 163 Luật THADS quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong THADS chỉ quy định người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong THADS là chấp hành viên đang giải quyết việc thi hành án; Tổ trưởng tổ quản lý, thanh lý tài sản của vụ án phá sản; Thủ trưởng cơ quan Thi hành án cấp huyện; Thủ trưởng cơ quan Thi hành án cấp tỉnh, cấp quân khu mới có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong THADS. Vậy ai là người có thẩm quyền xử phạt đối với những hành vi vi phạm tại khoản 3. Điều 7, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP của Chính phủ. Đồng thời, qua thực tế áp dụng cho thấy, đối với những hành vi vi phạm quy định tại khoản 3, Điều 7, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP của Chính phủ đã có xảy ra không những ở cơ quan THADS cấp tỉnh mà còn xảy ra ở cơ quan THADS cấp huyện. Vậy để xử phạt vi phạm hành chính đối với những hành vi này, cơ quan THADS không có cơ sở để xử lý.

* Vướng mắc do Luật Đặc xá ngày 21/11/2007 của Quốc hội chỉ quy định trách nhiệm của người chấp hành hình phạt tù để được xem xét đặc xá  “Chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác sau khi được đặc xá” (khoản 3, Điều 13 Luật Đặc xá); “Cam kết không vi phạm pháp luật, tiếp tục chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác sau khi được đặc xá” (khoản 4, điều 14 Luật Đặc xá) mà chưa quy định ràng buộc người chấp hành hình phạt tù theo hướng xét thái độ và kết quả thi hành nghĩa vụ dân sự là một trong những điều kiện bắt buộc để xem xét đặc xá. Vì vậy, việc tổ chức THADS của chấp hành viên cơ quan THADS đối với người chấp hành hình phạt tù sau khi đặc xá rất khó khăn, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác THADS.

* Vướng mắc quy định của pháp luật về mô hình tổ chức, cơ chế THADS: Theo quy định của pháp luật thì công tác quản lý thi hành án hiện nay đang ở trong tình trạng thiếu tập trung thống nhất do có nhiều cơ quan khác nhau quản lý, tổ chức thực hiện (Bộ Công an; Bộ Quốc phòng; Bộ Tư pháp; UBND cấp xã…) nên dẫn đến nhiều khó khăn trong việc tổng kết, đánh giá, nắm tình hình, chỉ đạo, hướng dẫn thi hành án. Ngoài ra, giữa việc THADS và thi hành án hình sự thiếu sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ nên công tác THADS gặp nhiều vướng mắc trong những trường hợp cùng một bản án hình sự có nhiều cơ quan chịu trách nhiệm ra quyết định và tổ chức thi hành (cơ quan Thi hành án hình sự chịu trách nhiệm thi hành hình phạt, cơ quan THADS chịu trách nhiệm thi hành phần án phí, tiền phạt và phần dân sự). Sự chưa gắn kết đó cản trở cho cơ quan THADS trong việc xác minh điều kiện thi hành án của người bị kết án, thực hiện các thủ tục thông báo về thi hành án liên quan đến phần nghĩa vụ dân sự.

2. Khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn:

* Việc thi hành án có khó khăn, phức tạp:

- Khó khăn do người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án, do người phải thi hành án đang thụ hình hoặc thụ hình xong về đi khỏi địa phương không rõ địa chỉ, không có tài sản để thi hành án; Người phải thi hành án đang ở địa phương, nghĩa vụ phải thi hành quá lớn, không có tài sản để thi hành hoặc có tài sản nhưng tài sản thuộc diện không được kê biên hoặc tài sản có giá trị thấp so với nghĩa vụ phải thi hành; Vì vậy, khi cơ quan Thi hành án lên phương án áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, thì xét thấy giá trị tài sản chỉ đủ cho chi phí tiến hành cưỡng chế, không giải quyết được số tiền phải thi hành án nên không tiến hành xử lý được; Người phải thi hành án đã đủ tuổi thành nên và bị phạt tù. Do vậy, khi cơ quan Thi hành án tổ chức thi hành đã xác minh điều kiện thi hành án thì họ không có điều kiện thi hành; trong khi đó gia đình của người phải thi hành án chưa thực sự quan tâm đúng mức đến người phải thi hành án (nhất là cha mẹ của người thành niên phạm tội nhưng còn sống phụ thuộc gia đình…). Nên kiên quyết không thi hành thay cho người phải thi hành án. Vì họ cho rằng, người phải thi hành án (nhất là cha mẹ của người thành niên phạm tội nhưng còn sống phụ thuộc gia đình…) đã có quyền công dân và tự chịu trách nhiệm về phần dân sự của mình. Trong khi đó, pháp luật chưa ràng buộc trách nhiệm của gia đình người phải thi hành án trong việc thi hành thay phần nghĩa vụ dân sự cho người phải thi hành án đã thành niên nhưng còn sống phụ thuộc gia đình trước khi phạm tội.

- Tình hình Kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi những năm gần đây phát triển nhanh; nhiều Khu kinh tế, Khu công nghiệp được hình thành (nhất là khu kinh tế Dung Quất). Tuy nhiên, việc phát triển về kinh tế đã phát sinh nhiều quan hệ xã hội và tranh chấp: tranh chấp về kinh tế, dân sự và lao động ngày càng nhiều, theo đó số vụ việc thi hành án ngày càng tăng. Vì vậy, nhiều công ty trở thành đối tượng là người phải thi hành án, nhưng chưa có điều kiện để thi hành. Do đó, làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công tác hành án dân sự trên địa bàn tỉnh, dẫn đến lượng án tồn đọng ngày càng tăng, như: Công ty Cổ phần Đại Cát Tường, ở Khu Công Nghiệp Tịnh Phong, huyện Sơn Tịnh; Công ty Chế biến Lâm sản xuất khẩu Hồng Phước, ở Khu công nghiệp Quảng Phú, thành phố Quảng Ngãi; Công ty TNHH Cheong Woon Vina, ở Cụm Công nghiệp Bình Chánh, Khu kinh tế Dung Quất... phải thi hành các khoản án phí và trả nợ cho các tổ chức, cá nhân trên 100 tỷ đồng. Đặc thù như Công ty TNHH Cheong Woon Vina, tuy đã kê biên, thẩm định giá và đã 03 lần giảm giá để tổ chức bán đấu giá, nhưng đến nay vẫn chưa bán được tài sản của Công ty;

* Khó khăn trong công tác tổ chức, cán bộ:

- Số lượng biên chế tại các cơ quan THADS trong 02 năm qua đã được Bộ Tư pháp phân bổ tăng thêm được 05 biên chế, nâng tổng số biên chế của các cơ quan THADS tỉnh Quảng Ngãi lên 144 biên chế. Tuy nhiên, so với yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay, thì số lượng biên chế này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

- Hiện nay Cục THADS tỉnh Quảng Ngãi chưa có (chưa được thành lập) Phòng tổ chức, cán bộ để tham mưu cho Cục trưởng Cục THADS tỉnh Quảng Ngãi thực hiện công tác quản lý về mặt tổ chức cán bộ (thời gian qua công tác này do văn Phòng Cục đảm nhận); trong khi đó số lượng cán bộ, công chức của các cơ quan THADS tỉnh Quảng Ngãi nhiều (144 biên chế). Vì vậy, gây khó khăn và quá tải cho Văn phòng Cục trong việc tham mưu cho Cục trưởng quản lý về mặt công tác tổ chức cán bộ;

- Mặc dù trình độ và năng lực chuyên môn của cán bộ, công chức (nhất là chấp hành viên) các cơ quan THADS tỉnh Quảng Ngãi luôn được nâng lên đáng kể. Tuy nhiên chất lượng cán bộ, công chức vẫn chưa đồng đều và tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ.

* Khó khăn về cơ sở vật chất, kỹ thuật, phương tiện, tài chính:

Cơ sở vật chất, kỹ thuật, phương tiện, tài chính của các cơ quan THADS tỉnh Quảng Ngãi luôn được Lãnh đạo Bộ Tư pháp và Tổng cục THADS quan tâm cấp phát và trang bị. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các cơ quan THADS tỉnh Quảng Ngãi chưa được cấp kinh phí đầu tư xây dựng kho vật chứng. Vì vây, gây không ít khó khăn cho việc tiếp nhận, bảo quản vật chứng.

Việc thi hành án đạt được hiệu quả đa phần là nhờ chấp hành viên, cán bộ làm công tác THADS chịu khó đi công tác cơ sở, trực tiếp đến nhà đương sự để động viên, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án. Tuy nhiên, hiện nay thực hiện chủ trương của Chính Phủ, Bộ Tư pháp và Tổng Cục THADS không cấp xe mô tô cho cơ quan THADS cấp tỉnh để phục vụ cho việc đi công tác, đã gây rất nhiều khó khăn cho cán bộ, công chức đi công tác tại cơ sở.

Hiện nay, các Sở, ban, ngành của tỉnh đều có trang thông tin điện tử để hoạt động nhằm tuyên truyền và phố biến pháp luật đối với ngành, lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của các Sở, ban ngành. Tuy nhiên, ngành THADS tỉnh Quảng Ngãi (Cục THADS tỉnh Quảng Ngãi) chưa được Bộ Tư pháp và Tổng Cục THADS trang bị trang thông tin điện tử và cấp kinh phí cho Trang thông tin điện tử hoạt động, đã phần nào ảnh hưởng đến công tác THADS, nhất là công tác tuyên truyền và phố biến pháp luật về THADS đến với các cơ quan, tổ chức có liên quan và người dân.

* Khó khăn trong công tác phối hợp:

- Công tác giải quyết khiếu nại của đương sự về việc yêu cầu xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chưa kịp thời như: Phần lớn loại án tranh chấp dân sự khi đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra tổ chức thi hành, người phải thi hành án chống đối hoặc gửi đơn khiếu nại đến Tòa án cũng như Viện kiểm sát kêu oan, khiếu nại yêu cầu xét xử lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, đến khi cơ quan Thi hành án tiến hành cưỡng chế thì có văn bản yêu cầu hoãn thi hành án, tạm đình chỉ của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nhưng khi hết thời hạn hoãn, đình chỉ mà không có văn bản thông báo cho cơ quan Thi hành án biết có kháng nghị hay không kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm…Hoặc có nhiều trường hợp cơ quan THADS đã tổ chức thi hành xong bản án, Quyết định của Tòa án thì lại có Quyết định kháng nghị yêu cầu xét xử lại bản án theo trình tự Giám đốc thẩm hay tái thẩm… Chính vì vậy, đã gây mất niền tin của các cơ quan phối hợp thi hành trên địa bàn, làm cho các cơ quan THADS gặp khó khăn trong công tác tổ chức thi hành án (nhất là tổ chức cưỡng chế thi hành án) và yêu cầu các cơ quan, ban, ngành ở địa phương phối hợp thi hành án.

- Nhiều việc thi hành án, những người phải thi hành án có nghĩa vụ liên đới chịu trách nhiệm (có chia phần cụ thể) nhưng khi một người trong số đó có điều kiện thi hành xong phần nghĩa vụ của mình, trong khi đó phần nghĩa vụ của người khác (người chưa có điều kiện) chưa thi hành xong, thì theo quy định tại khoản 3, Điều 5 Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của liên Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục THADS và phối hợp liên ngành trong THADS thì: “Nếu người có nghĩa vụ liên đới không có điều kiện thi hành án, thì cơ quan thi hành án yêu cầu những người có điều kiện thi hành án thực hiện thay phần nghĩa vụ của người đó. Người đã thực hiện thay phần nghĩa vụ thi hành án có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ liên đới khác thanh toán lại phần nghĩa vụ mà người đó đã thực hiện thay cho họ theo quy định tại Điều 298 của Bộ luật dân sự”. Tuy nhiên, khi chấp hành viên cơ quan THADS yêu cầu người có điều kiện thi hành án thi hành thay phần nghĩa vụ cho người chưa có điều kiện thi hành án, nhưng người có điều kiện thi hành án không thi hành thay nghĩa vụ cho người chưa có điều kiện thi hành án, mặc dù Chấp hành viên đã giải thích rõ về quyền và nghĩa vụ của người phải thi hành án có điều kiện thi hành; đồng thời khi áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản của người có điều kiện, thì cơ quan THADS không nhận được sự phối hợp của các cơ quan, ban, ngành có liên quan vì họ cho rằng Luật quy định chưa rõ về vấn đề này, nên không ràng buộc được các cơ quan có liên quan phối hợp thực hiện.

- Sự phối hợp giữa các cơ quan, Ban, ngành, tổ chức với cơ quan THADS: Thực tế cho thấy, hiệu quả hoạt động THADS phụ thuộc nhiều vào sự ủng hộ, phối hợp của các cơ quan và chính quyền cơ sở. Tuy nhiên, một số cơ quan, tổ chức còn có sự can thiệp không đúng thẩm quyền vào quá trình thi hành án; không thực hiện đúng nghĩa vụ, trách nhiệm trong việc tạo điều kiện, hỗ trợ, phối hợp, tham gia công tác thi hành án như: không thực hiện đầy đủ trách nhiệm phối hợp trong việc tống đạt các loại giấy tờ, quyết định về thi hành án cho các đương sự, không tạo điều kiện cho cơ quan Thi hành án xác minh điều kiện thi hành án, cưỡng chế, kê biên, định giá tài sản; xem xét kịp thời những kiến nghị của cơ quan Thi hành án đối với bản án, quyết định… Trong khi pháp luật chưa có những quy định cụ thể, ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân liên quan trong trường hợp không thực hiện đúng và kịp thời những yêu cầu của chấp hành viên và cơ quan THADS.

Để góp phần khắc phục những khó khăn, vướng mắc; Chúng tôi kiến nghị một số giải pháp khắc phục như sau:

 

1. Về thể chế:

* Những quy định của Luật THADS năm 2008; pháp luật có liên quan và các văn bản hướng dẫn thi hành cần hủy bỏ/sửa đối/bổ sung:

- Cần bổ sung thêm Điều 34 Luật THADS quy định cơ quan Thi hành án từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án trong trường hợp đơn yêu cầu thi hành án không đầy đủ các nội dung quy định tại khoản 1, khoản 2, Điều 31 Luật THADS và đã được cơ quan THADS thông báo yêu cầu bổ sung, nhưng người được thi hành án không bổ sung hoặc đã bổ sung nhưng vẫn không đầy đủ các nội dung quy định tại khoản 1, khoản 2, Điều 31 Luật THADS;

- Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và quy định thêm vào Luật THADS và Bộ luật Hình sự trách nhiệm và chế tài (hành chính và hình sự - quy định tội danh và mức hình phạt) đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án không cung cấp thông tin khi người được thi hành án hoặc người đại diện theo ủy quyền của người được thi hành án ủy quyền có yêu cầu và cũng không có văn bản trả lời và nêu rõ lý do từ chối cung cấp thông tin; đồng thời quy định rõ về trình tự, thủ tục; thành phần tham gia; nội dung, biểu mẫu… biên bản xác minh do người được thi hành án xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án;

- Cần sửa đổi, bổ sung Điều 59 Luật THADS theo hướng: “Trường hợp theo Bản án, Quyết định mà một bên được nhận tài sản và phải thanh toán cho người khác giá trị tài sản họ được nhận, nhưng tại thời điểm thi hành án, giá trị tài sản thay đổi thì Chấp hành viên vẫn thi hành theo đúng nội dung Bản án, Quyết định. Đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác về việc yêu cầu thanh toán phần giá trị chênh lệch của tài sản tại thời điểm thi hành án”;

- Nghiên cứu bãi bỏ quy định tại khoản 1, Điều 26, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định về: “Người phải thi hành nghĩa vụ đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đã thi hành được ít nhất bằng 1/20 khoản phải thi hành, nhưng giá trị không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch thì được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 Luật THADS”;

- Cần sửa đối, bổ sung Bộ Luật tố tụng dân sự theo hướng quy định quyền cho chấp hành viên và đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1, Điều 47 Luật THADS và quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản theo khoản 1, Điều 102 Luật THADS; đồng thời quy định thẩm quyền cho Tòa án thụ lý giải quyết đối với những yêu cầu trên;

- Bổ sung Luật THADS qui định trường hợp kê biên quyền sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, đất làm muối của người phải thi hành án là người trực tiếp lao động nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối mà nguồn sống chủ yếu của họ là thu nhập có được từ hoạt động sản xuất này, thì phải để lại cho người phải thi hành án diện tích đất đủ đảm bảo cho họ sản xuất để sinh sống trong một thời hạn nhất định như quy định tại Điều 4 Nghị định Nghị định 164/2004/NĐ-CP ngày 14/9/2004 của Chính phủ trước đây đã qui định.

- Nghiên cứu bổ sung quy định và hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp cưỡng chế buộc giao nhà ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình cho người trúng đấu giá, Chấp hành viên phải xem xét trích từ tiền bán tài sản một khoản tiền đủ đảm bảo cho người phải thi hành án và gia đình của người phải thi hành án cùng sống chung trong ngôi nhà của người phải thi hành án thuê nhà ở trong thời hạn 01 năm, theo với giá thuê nhà trung bình tại địa phương.

- Bổ sung vào khoản 1, Điều 6 Thông tư số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục THADS và phối hợp liên ngành trong THADS và bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự theo hướng: Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên có quyền hủy bỏ hoặc yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hủy bỏ giao dịch chuyển quyền sở hữu tài sản giữa người phải thi hành án với người khác khi đã có bản án sơ thẩm.

- Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 47, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp theo hướng mở rộng thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho Chấp hành viên, Tổ trưởng Tổ quản lý thanh lý tài sản, Thủ trưởng cơ quan THADS cấp huyện và Thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh được quyền xử phạt vi phạm hành chính trong THADS mức tiền phạt tối đa 5.000.000 đồng, để khắc phục sự bất cập và mẫu thuẫn giữa các quy định tại Điều 103 Luật THADS, Điều 7 và Điều 47, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp;

- Cần nghiên cứu, bổ sung Luật THADS hoặc Nghị định hướng dẫn thi hành Luật THADS của Chính phủ quy định về việc thi hành nghĩa vụ liên đới có chia phần trong THADS, nhằm nâng cao hiệu lực pháp lý và hiệu quả công tác tổ chức THADS đối với khoản thi hành án về nghĩa vụ liên đới.

- Đề nghị cấp có thẩm quyền bổ sung pháp luật về đặc xá thêm quy định: về điều kiện xét miễn, giảm thời gian chấp hành hình phạt tù và đặc xá tha tù trước thời hạn theo hướng: người đang chấp hành hình phạt tù phải thi hành xong tất cả các nghĩa vụ dân sự trong bản án hình sự là một trong những điều kiện bắt buộc để được xem xét miễn, giảm thời gian chấp hành hình phạt tù và đặc xá, tha tù trước thời hạn.

* Những văn bản cần xây dựng mới:

- Cần có văn bản quy định mới về việc thu, nộp, quản lý và sử dụng chi phí xác minh điều kiện thi hành án, để khắc phục khó khăn cho người nộp chi phí xác minh (người được thi hành án yêu cầu chấp hành viên cơ quan THADS xác minh điều kiện thi hành án) và khó khăn của cơ quan Thi hành án trong việc thu, quản lý và sử dụng đối với chi phí xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của người được thi hành án.

- Để tạo sự thống nhất, đồng bộ trong thi hành án; cần phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về THADS theo hướng quy định mới về mô hình tổ chức, cơ chế thi hành án; công tác quản lý thi hành án giữa THADS và thi hành án hình sự theo hướng gộp cả THADS và Thi hành án hình sự do Bộ Tư pháp thống nhất quản lý và tổ chức thi hành (cơ quan THADS trực tiếp tổ chức thi hành), nhằm tạo cơ sở pháp lý hữu hiệu cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác thi hành án.

- Cần ban hành Quy chế phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan công an trong công tác phối hợp bảo vệ xác minh điều kiện thi hành án; áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án… nhằm tăng cường công tác phối hợp và đảm bảo về sức khỏe, tính mạng cho cán bộ, chấp hành viên cơ quan Thi hành án trong quá trình thực thi công vụ.

2. Về thực tiễn:

- Cần nghiên cứu việc quản lý thu nhập của phạm nhân trong quá trình lao động, sản xuất ở các Trại giam, Trại tạm giam theo hướng có thể trích một phần thu nhập để đảm bảo THADS; đồng thời nghiên cứu xây dựng quy định về chế độ lao động bắt buộc (lao động công ích) đối với trường hợp người phải thi hành án không có tài sản (kể cả phạm nhân khi ra tù chưa có công ăn việc làm) để tạo điều kiện cho họ có thu nhập và có thể khấu trừ thi hành án.

- Tránh tình trạng đùn đẩy, trốn tránh trách nhiệm trong việc phối hợp, nhằm giúp cho hoạt động THADS đạt được hiệu quả, cần phải ban hành quy chế phối hợp THADS, trong đó quy định rõ về chức năng, nhiệm  vụ, quyền hạn và trách nhiệm cho các cơ quan hữu quan khi tổ chức thực hiện; đồng thời phải quy định chế tài hành chính và chế tài về hình sự đối với các cơ quan, ban ngành hữu quan và cá nhân có thẩm quyền khi không phối hợp, thực hiện những yêu cầu của cơ quan Thi hành án, Chấp hành viên trong việc tổ chức thi hành án như: xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án, …

3. Kiến nghị xúc tiến giải pháp hỗ trợ từ các cơ quan có liên quan:

* Kiến nghị Quốc hội: Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và ban hành Bộ luật Thi hành án theo hướng gộp cả THADS và Thi hành án hình sự do Bộ Tư pháp thống nhất quản lý và tổ chức thi hành, nhằm tạo cơ sở pháp lý hữu hiệu cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác thi hành án;

Tiếp tục sửa đổi, bổ sung những quy định của Luật THADS và các văn bản pháp luật có liên quan như: Luật Đặc xá, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự… nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ, tăng cường hiệu quả công tác THADS.

* Kiến nghị Chính phủ; các Bộ, cơ quan ngang Bộ: Tiếp tục rà soát các văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, Bộ, ngành, lĩnh vực để bổ sung kịp thời những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức trong THADS theo Quy định tại Chương VIII (từ Điều 166 đến Điều 180) của Luật THADS, nhằm tạo cơ sở pháp lý và tính ràng buộc cho các cơ quan, tổ chức trong THADS thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong THADS.

* Kiến nghị Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Thực hiện đúng quy định về giải quyết khiếu nại của đương sự về yêu cầu kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; trả lời kiến nghị của cơ quan THADS đúng thời hạn theo quy định của pháp luật, nhằm giải quyết vướng mắc cho các cơ quan THADS trong việc tổ chức thi hành những vụ việc mà đương sự có khiếu nại yêu cầu xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

* Kiến nghị Bộ Tư pháp và Tổng cục THADS: Tiếp tục quan tâm, tăng cường biên chế và ban hành Quyết định thành lập Phòng Tổ chức cán bộ thuộc Cục THADS tỉnh Quảng Ngãi; đề nghị cấp có thẩm quyền phải tạo cơ chế ưu đãi cho cán bộ, công chức làm công tác THADS, nhằm thu hút những người có trình độ và năng lực chuyên môn vào ngành và gắn bó lâu dài với ngành; tiếp tục cấp kinh phí và trang bị cơ sở vật chất cho các cơ quan THADS (nhất là cho chủ trương và cấp kinh phí đầu tư xây dựng trụ sở làm việc và kho vật chứng đối với các cơ quan THADS có trụ sở cũ, không còn phù hợp với điều kiện thực tế trong giai đoạn hiện nay; cấp xe mô tô cho Cục THADS tỉnh để phục vụ cho công tác cơ sở; tăng cường kinh phí hoạt động thường xuyên; đầu tư kinh phí mua sắm tài sản cố định: đóng bàn, ghế, tủ phục vụ cho công tác…). Đồng thời, nghiên cứu cấp kinh phí để Cục THADS tỉnh Quảng Ngãi mở Trang thông tin điện tử và đi vào hoạt động, nhằm tạo điều kiện cho cơ quan THADS tỉnh Quảng Ngãi thực hiện tốt công tác tuyên truyền pháp luật về THADS; công khai các quy định, biểu mẫu và các hoạt động chủ yếu, thường xuyên của chấp hành viên, của cơ quan THADS để các cơ quan, ban, ngành có liên quan và người dân biết phối hợp thực hiện, nhằm nâng cao hiệu quả công tác THADS.

* Kiến nghị cấp ủy, Chính quyền địa phương cấc cấp: Tiếp tục quan tâm hơn nữa đến công tác THADS tại địa phương, nhất là trong công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và quản lý nhà nước cho cán bộ, công chức các cơ quan THADS; xem xét cấp đất cho các cơ quan THADS xây dựng Trụ sở làm việc và Kho vật chứng theo chủ trương đầu tư của Bộ Tư pháp và Tổng cục THADS./.

Phạm Huy Ân



( Ngày 02 tháng 11 năm 2011 )    
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP
Địa chỉ: 60 Trần Phú, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại: 04.62739718 - Fax: 04.62739359. Email: banbientap@moj.gov.vn; cntt@moj.gov.vn.
Giấy phép cung cấp thông tin trên internet số 28/GP-BC ngày 25/03/2005.
Trưởng Ban biên tập: Nguyễn Tiến Dũng - Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin.
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.